Skip to content

Tổng quan đạo diễn nữ anime

08.03.2019

female directors

Có không ít phụ nữ làm anime, nhưng không nhiều đạo diễn nữ. Trong bài viết về anime Hakujaden (1958) – phim điện ảnh màu đầu tiên làm nên cột mốc lịch sử ngành anime – trang Washi’s Blog cho biết rằng trong khi hầu hết nhân sự vẽ hoạt họa của Toei Douga ngày ấy là nam giới, bộ phận lọc nét/tô màu chủ yếu được giao cho nữ giới đảm nhận, bắt nguồn từ quan niệm rằng các bà các cô thường tinh tường về màu sắc hơn, còn các ông các chú thì lại khéo vẽ hơn. Nhưng Washi cũng ghi nhận rằng chính những quan niệm kiểu này đã góp phần đẩy nữ giới vào công việc lương thấp hơn và chặn đường thăng tiến của họ trong sự nghiệp.

Tình hình đã đổi khác sau mấy chục năm phát triển của anime. Ngày nay khán giả có thể thấy hoạt họa viên nữ tìm được chỗ đứng trong ngành, nhưng những thành kiến giới tính thì vẫn không ngừng phong phú. Mới năm 2016, khi tờ Guardian đặt câu hỏi liệu có bao giờ Ghibli tuyển một đạo diễn nữ hay không, nhà sản xuất Nishimura Yoshiaki của hãng này trả lời: “Phụ nữ thiên về thực tế, họ xoay xở tốt trong những công việc đời sống hàng ngày. Mặt khác đàn ông thiên về lý tưởng – phim truyện huyền ảo cần xu hướng lý tưởng ấy. Không phải ngẫu nhiên mà đàn ông được chọn [làm đạo diễn].” Khi đưa ra lý do như vậy, hẳn Nishimura cũng không thấy có gì mâu thuẫn với truyền thống xây dựng những nữ chính đầy mộng mơ, mạnh mẽ của Ghibli. Gần đây khi nhắc đến cuộc chiến bất tận chống kỳ thị trong ngành anime, Sakuga Blog vừa thừa nhận tình hình lộn xộn, khổ cực của người làm anime nói chung, vừa nhấn mạnh rằng nhân sự nữ quả thật có thể gặp vô vàn vấn đề phân biệt đối xử trong môi trường công ty, như thể có bức trần bằng kính, vừa vô hình vừa hiện hữu, khiến họ khó lòng leo cao.

Chủ đề phụ nữ & anime có thể dẫn đến đủ dạng bài viết mừng 8/3. Với bài lần này, mình viết về các đạo diễn nữ, những người có vai trò thường được xem là cực kỳ quan trọng trong việc quyết định số phận tác phẩm, đồng thời cũng là một bộ phận còn thiểu số nhưng rất đa dạng và không hề thiếu những tên tuổi lớn.

Bản thân việc đạo diễn cũng có sự phân cấp về tầm quan trọng, đại khái: chief director > director > series director > assistant director > episode director, và để cho rõ ràng, mình sẽ bỏ qua những ai chỉ mới giữ những chức như trợ lý đạo diễn hay đạo diễn tập; cũng như không tính đến đạo diễn của các shorts hay OVA quá ngắn ngủi, vụn vặt. Bài viết tập hợp nhiều nhân vật lại cùng một chỗ nên dài, nhưng cần nhớ rằng đa số đạo diễn được liệt kê đều mới xuất hiện trong mười năm đổ lại đây, và nếu xét theo mỗi mùa có 30, 40 anime thì số đạo diễn nữ ta tìm thấy được từng mùa vẫn chỉ đếm trên vài đầu ngón tay.

=========

Lò luyện Kyoto Animation

Yamada Naoko

山田尚子
(Việc làm anime đầu tiên: 2004 / Lần đầu đạo diễn chính: 2009 – Năm sinh: 1984)

yamada naoko - liz to aoi tori

Đã có quá nhiều bài viết về Yamada Naoko. Từ 2004, Yamada gia nhập Kyoto Animation với công việc vẽ gia công hoạt họa. Là đệ tử ruột của Ishihara Tatsuya, tài năng của cô nhanh chóng được nhà sản xuất công nhận và đến 2009 cô đã được giao phó một chân đạo diễn. Khi Yamada lần đầu chuyển thể manga 4-koma K-On!, phiên bản anime của nó trở thành một hiện tượng, vừa đem về doanh thu khổng lồ, vừa để lại ảnh hưởng lâu dài, mà nhiều anime về sau trên thị trường rất thèm thuồng lặp lại thành công đó. Sau thuận lợi của phần 2 K-On!!K-On! movie, KyoAni tự tin giao tiếp cho cô một anime nguyên tác là Tamako Market (2013). Tamako Market được đón nhận khá khiêm tốn, nhưng phim điện ảnh Tamako Love Story tiếp nối giúp Yamada ẵm một giải Gương mặt triển vọng tại Japan Media Arts Festival.

Yamada Naoko thẳng tiến lên vị trí đầu tàu của công ty và – cùng với sự phát đạt của KyoAni – sở hữu sức ảnh hưởng lớn trong ngành. Phong cách đặc trưng (nghệ thuật nhiếp ảnh, ngôn ngữ chân cẳng/cơ thể, ngôn ngữ hoa…) và hứng thú riêng của Yamada (khắc họa nữ sinh đáng yêu trong cuộc sống đời thường) cũng hòa hợp với phong cách & đề tài của KyoAni. Cô có thể làm series director cho TV series như Hibike Euphonium (2015), cũng có thể ôm thầu những phim điện ảnh cần nhiều trau chuốt như Koe no Katachi (Dáng hình thanh âm) và Liz to Aoi Tori – thành công và tính nghệ thuật của những tác phẩm này đủ cho Yamada sánh vai cùng những đạo diễn anime bậc thầy hiện tại. Do sự giản dị về nội dung mà phim của Yamada có thể tẻ nhạt đối với nhiều người, nhưng những ai đã ưng được phong cách hiện thực khẽ khàng, giàu cảm xúc này hẳn sẽ không ngừng kinh ngạc vì sự tinh tế mà cô đem vào tác phẩm.

Utsumi Hiroko

内海紘子
(2005/2013)

utsumi hiroko - banana fish

Utsumi Hiroko xuất thân hoạt họa viên từ năm 2005, những bước chập chững đầu tiên vẽ bảng phân cảnh & đạo diễn tập của cô cũng là dưới sự dìu dắt của Yamada trong K-On!!. Nhưng nếu Yamada thích dựng phim nhiều gái xinh thì người đồng nghiệp cùng thời Utsumi này lại thành danh qua các phim mang hơi hướm trai đẹp BL, với nhiều màu mè tươi sáng hồng hường, vàng, tím. Kinh nghiệm tham gia câu lạc bộ bơi lội thời phổ thông, sở thích vẽ hình thể người, lại thêm tinh thần hủ nữ cao độ,… tất cả gộp lại khiến Free! (2013) trở thành tác phẩm tâm huyết của Utsumi tại KyoAni, cũng như Utsumi là đạo diễn hoàn hảo đưa Free! đến thành công rực rỡ. Lẽ ra Free! là tác phẩm chuyển thể, nhưng Utsumi táo bạo đến mức sáng tạo nội dung hoàn toàn mới cho anime. Cô tiếp tục đạo diễn phần 2 Free! Eternal Summer, cống hiến cho KyoAni một tựa phim ăn khách đủ để hãng này kéo ra 3 mùa TV series cùng nhiều movie, kể cả sau khi Utsumi đã rời hãng đi nơi khác.

Từ lúc chia tay KyoAni, Utsumi cộng tác một thời gian với Gallop, Bones, rồi sau đó mới được Aniplex đề xuất thực hiện dự án chuyển thể danh giá Banana Fish (2018) cùng với studio MAPPA. Vẫn giữ sự táo bạo từ những ngày ở KyoAni, cô thổi hồn hiện đại vào Banana Fish, biến bộ phim thành một tác phẩm đặc biệt của mình. Chưa có nhiều tựa phim để kể ra, nhưng chất lượng cao của cả Free!Banana Fish là sự chứng nhận cho năng lực và tiếng thơm của Utsumi trong lòng khán giả, nhất là những ai yêu thích shounen-ai.

Takao Noriko

高雄統子
(2005/2011)

takao noriko - saint young men

Tiếp tục một nữ nhân sáng giá khác cũng đầu quân vào Kyoto Animation dạo 2005: Takao Noriko. Từ sớm, Takao đã được nhận những chức đạo diễn nhỏ cho Kanon 2006Clannad, hỗ trợ tích cực cho Yamada qua 2 mùa K-On, và là một trong những gương mặt hàng đầu (bên cạnh Ishihara và Takemoto) đằng sau thành công của tuyệt phẩm Suzumiya Haruhi no Shoushitsu (2010). Rời công ty, mong muốn của cô là được toàn quyền đạo diễn một anime; và với kinh nghiệm dày dạn từ KyoAni, liền trong năm 2011 Takao đã được giao làm series director cho The Idolmaster. Cô chỉ chịu lép vế đạo diễn chính Nishigori trong lần đầu ra mắt này, còn sau đó Takao đích thị lên ngôi bà hoàng ở A-1 với một loạt dự án trên cương vị đạo diễn tối cao.

OVA và phim điện ảnh Saint Onii-san (2012–2013) là nơi Takao thử sức với phong cách mới mẻ và là một bản chuyển thể độc đáo – thêm một ví dụ cho thấy độ đa dạng kỹ thuật của cô. Nhưng ngoài đó ra, tên tuổi của Takao tại A-1 gắn liền với dòng Idolmaster, bao gồm The Idolmaster movie và 2 phần The Idolmaster: Cinderella Girls, đến nay đây vẫn là thương hiệu nổi trội trong cơn sốt anime idol được nhiều người biết đến. Công việc gần đây nhất của cô là giúp đỡ ông bạn Nishigori chỉ đạo một số tập Darling in the Franxx. Không còn nghi ngờ gì, Takao đã trở thành một đạo diễn quan trọng của A-1 những năm sau này.

Fujita Haruka

藤田春香
(2011/2018)

fujita haruka - violet evergarden

Đưa Fujita Haruka vào danh sách bài viết hôm nay có hơi ăn gian, vì chức vụ cao nhất của cô mới chỉ là series director, thiếu chút nữa mới ngang bằng đạo diễn chính. Nhưng anime do Fujita làm đạo diễn series lại là tác phẩm đình đám Violet Evergarden của mùa đông năm ngoái, cô xứng đáng được thêm nhiều người biết đến.

Rèn luyện ở KyoAni từ năm 2010 và bắt đầu xuất hiện trong danh sách hoạt họa viên Nichijou năm 2011, Fujita sau đó được đề bạt làm đạo diễn tập cho Chuunibyou Ren (2014), nhưng có lẽ thành tích ấn tượng của Fujita trong vai trò đạo diễn tập/vẽ bảng phân cảnh là tập 8 xuất thần của Hibike Euphonium, với đầy những chi tiết hình ảnh đáng nhớ gợi lên bầu không khí lâng lâng như trong một giấc mộng đêm hè, mà ắt nhiều fan của bộ anime này vẫn không sao quên được. Fujita chịu ảnh hưởng mạnh từ đàn chị Yamada Naoko trong việc chú trọng tính hiện thực nhiếp ảnh, quan tâm đến ngôn ngữ nhỏ nhẹ của cơ thể và hoa cỏ, đồng thời cô cũng là một chuyên gia sử dụng bóng phản chiếu để soi xét tâm tình nhân vật. Fujita có thừa khả năng khơi dậy nét đẹp hình ảnh để khắc họa cảm xúc nội tâm, mà chắc chắn Violet Evergarden là một cơ hội lớn cho cô để lại dấu ấn.

Đạo diễn lâu năm

Moriwaki Makoto

森脇真琴
(1978/1986)

morikawa makoto - milky holmes eiga

Moriwaki Makoto là nữ đạo diễn có vốn tác phẩm anime dày đặc mà ít ai nhắc tới, vì bà chủ yếu gắn liền với dòng phim thiếu nhi. Tham gia vẽ bảng phân cảnh cho Ikkyuu-san của Nippon Animation từ 1978, bà còn làm tiểu đạo diễn cho các phim xa xưa như Urusei Yatsura, Sasuga no Sarutobi, Captain TsubasaTheo Anidb, Moriwaki cùng một số đồng nghiệp rời Shin-Ei Animation vào năm 1982 để sáng lập studio Animaru-Ya – sau này gọi là Ekura Animaru – rồi bà ở lại đấy làm việc cho đến năm 2004 thì lại rời đi hành nghề tự do. Với movie High School Kimengumi sản xuất năm 1986, Moriwaki là người có được công việc đạo diễn chính sớm nhất trong những cá nhân mà bài viết này đề cập.

Với một đạo diễn nữ vào thời ấy mà nói, số phim bà nhận được quả là số nhiều. Cho đến nay, đếm sơ sơ có cỡ 20 phim ghi tên bà là đạo diễn. Hết 4 phần Onegai My Melody từ năm 2005, sang 2009 bà lại bận rộn với các phim Tantei Opera Milky Holmes. Loạt phim PriPara từ sau 2014 cũng không thiếu tên bà, mà PriPara (2014) có 140 tập, Idol Time PriPara (2017) có 52 tập – đó là quy mô công việc mà Moriwaki đã quen xử lý. Nên có lẽ cũng là một bất ngờ nho nhỏ khi mùa đông 2019 này bà đạo diễn cho anime B-project: Zecchou Emotion về nhóm nhạc idol nam, thậm chí kiêm cả việc biên soạn series dưới nghệ danh Ooshima Nozomu.

Kase Mitsuko

加瀬充子
(1975/1998)

kase mitsuko - young black jack

Xuất hiện từ 1975, Kase Mitsuko hẳn là nhân sự anime có thâm niên nhất trong danh sách này. Một trong những công việc đầu tiên của Kase là vẽ hoạt họa khung chính cho bộ mecha Chou Denji Robo Combattler V. Cái duyên của Kase cùng mecha kéo dài suốt vài thập kỷ, khi bà được giao làm đạo diễn tập & vẽ bảng phân cảnh cho những series mecha dài tập hàng năm, chẳng hạn Soukou Kihei Votoms, Kidou Keisatsu Patlabor: On Television, Mobile Suit Victory Gundam… (bên cạnh các phim hành động như City Hunter, Street Fighter 2 V).

Kase nổi tiếng là người phụ nữ đầu tiên giữ chức đạo diễn phim mecha, cụ thể là cho 7 tập đầu OVA Mobile Suit Gundam 0083: Stardust Memory năm 1991, nhưng cương vị đạo diễn toàn diện hơn đến năm 1998 mới chính thức được giao cho bà với phim điện ảnh Mobile Suit Gundam: 8th MS Team – Miller’s Report. Thế mạnh của bà tiếp tục phát huy trong series cyborg khoa học viễn tưởng Saishuu Heiki Kanojo (2002), trước khi lấn sân qua những thể loại khác. Sau Crystal Blaze (2008), Kase đạo diễn cho Ristorante Paradiso (2009), anime josei của hãng David Production lấy bối cảnh nhà hàng ẩm thực ở Ý – một món lạ miệng thú vị trong thực đơn anime của Kase, chú trọng sự thanh lịch, chậm rãi, khám phá một dàn nhân vật tuổi trung niên. Năm thứ 40 trong sự nghiệp anime của Kase Mitsuko được đánh dấu bằng công việc đạo diễn cho Young Black Jack (2015) ở Tezuka Productions.

Sayama Kiyoko

佐山聖子
(1991/1998)

sayama kiyoko - skip beat

Một trường hợp đạo diễn nữ cũng khá lẻ loi cách đây hơn 20 năm là Sayama Kiyoko. Theo cách tuyển dụng cũng thường thấy trong ngành, Sayama nhập cuộc bằng ngay công việc vẽ bảng phân cảnh & đạo diễn tập, thay vì phải đi lên dần dần từ vị trí hoạt họa viên, mà ở đây Mahou no Princess Minky Momo (1991) là phim xa xưa nhất có ghi nhận tên bà. Vốn liếng phim mà Sayama tham gia hỗ trợ dài dằng dặc, từ Princess Tutu, đến Nana, Death Note, Seirei no Mobirito… đều có dấu tay của bà trong bảng phân cảnh hay chỉ đạo dàn dựng. Chỉ trong năm ngoái bà đã góp mặt vào bảng phân cảnh của Planet With, Megalobox, Sora Yori no mo Tooi Basho – tóm lại là một lý lịch đáng gờm, cho thấy Sayama được hoan nghênh từ nhiều nơi trong ngành như thế nào. (Ghi chú: Sayama cũng là người đồng sự rất tích cực giúp đỡ cô đàn em Ishizuka Atsuko trong những anime mà Ishizuka đạo diễn.)

Nhưng quan trọng là vị trí đạo diễn chính: Sayama bắt đầu khoác lên vai trò lớn này vào năm 1998 với series Saber Marionette J to X, kế đến là Pretear (2001). Những phim từ 2008 đổ đi dưới quyền Sayama có lẽ sẽ quen thuộc với khán giả sau này hơn: Vampire Knight, Skip Beat, Brave 10, và mùa 2 Amanchu! Advance vào năm 2018 – tất cả đều chuyển thể từ các manga nổi tiếng, thu hút được nhiều người hâm mộ tác phẩm gốc.

Kon Chiaki

今千秋
(1999/2006)

kon chiaki - golden time

Từ thời khó đào đâu ra đạo diễn là nữ thì Kon Chiaki đã tung hoành trong làng anime, và đến nay cô là một trong những cái tên thường gặp nếu nhắc đến chủ đề đạo diễn nữ. Vào ngành quãng năm 2000, Kon đảm nhận vẽ bảng phân cảnh & đạo diễn tập cho Super Gals, Midori no Hibi, Bleach… của Pierrot. Trong thời gian này, Kon góp tay vào một số lượng tựa phim đáng kể, có hành động josei như Saiyuuki Reload, mà cũng có shounen tiêu chuẩn như Ueki no Housoku. Đến 2006, cô lên làm đạo diễn chính ở studio Deen và đã có tác phẩm để đời là 2 mùa của loạt anime tâm lý kỳ bí Higurashi no Naku Koro ni.

Nhưng danh sách anime của Kon chưa dừng lại ở đấy, cô tiếp tục nhận thêm một hàng dài dự án đạo diễn cho TV series Umineko, Makai Ouji,… Rồi các tựa như Hanasakeru Seishounen, 2 mùa Sekaiichi Hatsukoi, và đặc biệt 3 mùa Junjou Romantica sau đấy biến Kon thành một đạo diễn gạo cội của dòng anime BL. Mùa 2 & 3 của Nodame Cantabile đánh dấu quan hệ cộng tác nghiêng dần về J.C. Staff, và sang năm 2013, Kon đã góp cho hãng này một tác phẩm anime chuyển thể có độ phủ sóng cao là Golden Time. Với thâm niên dàn dựng, Kon đều đặn được đặt hàng anime mới, chẳng hạn gần đây thôi là Back Street Girls (2018), vẫn hợp tác cùng J.C. Staff.

Yamamoto Sayo

山本沙代
(2001/2008 – 1977)

yamamoto sayo - yuri on ice

Và đây nữ đạo diễn huy hoàng: Yamamoto Sayo. Yamamoto vốn học trường thiết kế, nhưng hứng lên thì đi vẽ anime. Tài năng của cô sinh viên mới ra trường chinh phục được Kon Satoshi đến nỗi ông lập tức giới thiệu cô vào dự án Sennen Joyuu (Millennium Actress), tiếc rằng những lục đục nội bộ buộc Yamamoto phải cáo lui. Dẫu vậy, nhân tài này vẫn được Madhouse trọng dụng để vẽ bảng phân cảnh cho X (2001) và nhiều series khác. Từ đó trở đi, Yamamoto lần lượt hợp tác với những tên tuổi đứng đầu ngành thông qua công việc phân cảnh & tiểu đạo diễn cho Kemonozume (Yuasa Masaaki), Evangelion 2.0 (Anno Hideaki), Samurai Champloo (Watanabe Shinichiro)…

Sau khi lọt vào mắt xanh NSX ở Manglobe nhờ Samurai Champloo, cơ hội đạo diễn đã chính thức gõ cửa. Yamamoto thực hiện một sản phẩm đặc sệt cá tính là Michiko to Hatchin năm 2008. Có lẽ xu hướng phi chính thống của Manglobe đã ảnh hưởng đến tác phẩm này, nhưng đứng từ hiện tại nhìn lại, tất thảy phim mà Yamamoto đạo diễn vẫn luôn là những dự án sáng tạo mạo hiểm. Trong tác phẩm đầu tay Michiko & Hatchin, Yamamoto kể câu chuyện phiêu lưu của cặp nữ chính trên bối cảnh Mỹ La tinh. Khi được đặt hàng dựng phim về Lupin III, Yamamoto lại dồn 13 tập cho riêng một nhân vật phụ sexy: Mine Fujiko to Iu Onna (2012), với hình thức mới lạ hiếm thấy trên thị trường. Và thời ấy có ai dám tưởng tượng rằng cô sẽ còn đi dựng một anime ở MAPPA về trượt băng nghệ thuật, mà khi cái phim ấy, Yuri on Ice, thực sự ra đời vào năm 2016, nó sẽ làm bão khắp cộng đồng, càn quét bảng xếp hạng, thống kê doanh thu và giải thưởng? Nhiều người biết đến Yamamoto từ Yuri on Ice dễ nghĩ rằng cô chuyên làm BL gợi cảm, trong khi kỳ thực cái chất quyến rũ chết người và nguy nga chói lọi đã thấm nhuần suốt sự nghiệp của cô.

Matsumoto Rie

松本理恵
(2005/2010 – 1985)

matsumoto rie - kekkai sensen

Vì mê mẩn Digimon: Our War Game của Hosoda Mamoru mà cô gái trẻ Matsumoto Rie đâm đầu nộp đơn vào Toei Animation từ năm 2005. Nhờ quyết định ngày đó, ngành anime đã có một nữ đạo diễn đại tài. Toei không phải môi trường thuận lợi cho nữ giới, nhưng trong vai trò trợ-lý-đạo-diễn-tập, Matsumoto rất kiên trì đóng góp cho 2 series Max HeartSplash Star của loạt Precure. Lên chức tiểu đạo diễn & phân cảnh, Matsumoto tham gia vào 5 tựa Precure nữa; dần dần tài năng đặc biệt của cô in dấu rõ ràng hơn trong tác phẩm. Ở tuổi 25, với movie Heartcatch Precure! (2010), Matsumoto là người trẻ nhất làm đạo diễn anime ở Toei. Sau movie 2010, cô đạo diễn trẻ chia tay loạt Precure để nhận nhiều dự án khác, nhất là đầu tư thực hiện một phim nguyên tác, dưới sự cho phép “muốn làm gì thì làm” của Toei. Kết quả là năm 2013, Matsumoto tung ra Kyousougiga và làm mê mẩn nhiều khán giả lẫn các nhà phê bình anime.

Có thể diễn tả phim của Matsumoto như một lăng kính vạn hoa, hoặc không thì như một nồi lẩu: lẩu về nội dung, lẩu về hình thức. Cô pha trộn yêu quái, máy móc, thần đạo, trò chơi điện tử,… vào cùng một chỗ. Rất nhiều chi tiết chen chúc, chỉ chợp mắt là bỏ lỡ; rất nhiều năng lượng sục sôi, như muốn xổ tung khỏi màn hình. Sau Kyousougiga, studio Bones rước Matsumoto về, để rồi cô chuyển thể Kekkai Sensen (2015) thật “vạn hoa” cho đúng ý và đạt thành công vang dội. Không ai biết Bones đã giấu Matsumoto vào mật thất nào trong nhiều năm qua, nhưng hy vọng video ca nhạc quảng cáo Baby I Love You Daze đóng mác đạo diễn Matsumoto Rie cuối năm 2018 có thể giúp người hâm mộ nguôi ngoai nỗi ngóng trông cô trở lại.

Đạo diễn đáng chú ý

Nakamura Shouko

中村章子
(2000/2011)

nakamura shouko - space

Trước khi song hành cùng Ikuhara Kunihiko đạo diễn Mawaru Penguindrum (2011), Nakamura Shouko đã có 10 năm chứng minh năng lực hoạt họa ở nhiều studio, đáng nói nhất là tại Gainax, nơi cô bắt đầu vẽ gia công cho FLCL năm 2000. Hồ sơ thành tích của Nakamura dành trọn cho việc hoạt họa, ở mảng này cô vươn lên vị trí vẽ khung chính & chỉ đạo hoạt họa, tham gia vào các tựa phim như Mushishi, Gurren Lagann, Kimi ni Todoke… Đến Panty & Stocking with Garterbelt năm 2010, Nakamura đã đánh bóng kỹ thuật, sở hữu khả năng biểu đạt hình ảnh thật yêu kiều, quyến rũ, mà cũng phóng đại, cách điệu khi cần. Ikuhara nhìn ra triển vọng hứa hẹn nơi cô và cứ thế chọn mặt gửi vàng: Năm 2011, Nakamura một bước thăng lên thành tổng đạo diễn cho Mawaru Penguindrum, thậm chí gánh đủ các khâu thiết kế ý tưởng, hoạt họa, đạo diễn & phân cảnh tập… Thành công nghệ thuật tài tình của Penguindrum giở ra một trang sử mới cho cô.

Nakamura giờ đây đã trở thành hoạt họa viên kiêm đạo diễn. Sẵn có máu làm phim khêu gợi, thật chẳng còn gì hợp cho bằng Nakamura vào vai đạo diễn tập cộng tác với Yamamoto Sayo trong Mine Fujiko năm 2012, hoặc cả cộng tác với Trigger trong Kill la Kill năm 2013 và Darling in the Franxx năm 2018. Phong cách nghệ thuật của cô kết tinh trong phim điện ảnh BL Doukyuusei (2016), nổi bật là nét đẹp mềm mại, hình ảnh biểu tượng và cách chia panel truyện trên màn hình. Doukyuusei có lẽ là một viên ngọc quý bị khuất mắt người đời, nhưng khán giả đại chúng vẫn có dịp trải nghiệm phong cách đặc trưng Nakamura thông qua các bản nhạc ED3 của Darling in the Franxx và ED của Yakusoku no Neverland (2019) do cô toàn quyền phụ trách.

Ishizuka Atsuko

いしづかあつこ
(2004/2012 – 1981)

ishizuka atsuko - yorimoi

Nếu Yamamoto Sayo đang nắm chìa khóa kho vàng ở MAPPA thì dưới mái nhà Madhouse, át chủ bài bây giờ chính là Ishizuka Atsuko. Với tình hình chất xám Madhouse bị rò rỉ đi nhiều nơi khác, Ishizuka là một trong những anh tài quý báu vẫn trung thành bám trụ và đều đều tung ra cho hãng các tựa anime chất lượng, giúp đại gia một thời này còn giữ được sự uy nghiêm. Vào nghề từ 2004, Ishizuka lần lượt phụ trách bảng phân cảnh/đạo diễn nhỏ cho Monster, Nana, movie Piano no Mori. Đến năm 2009, Aoi Bungaku – tuyển tập anime chuyển thể từ tác phẩm văn học – có lẽ là nơi đầu tiên cô được tự do bộc lộ cá tính, để rồi bảng màu khi thì sặc sỡ khi thì huyền ảo sẽ còn lặp lại xuyên suốt những lần đạo diễn sau của Ishizuka.

Năm 2012, Ishizuka ra mắt tác phẩm đạo diễn chính thức. Sakura-sou no Pet na Kanojo là anime hài tình cảm tưởng không có gì nổi bật nhưng đã được dàn dựng rất chắc tay, đủ để khán giả có được ấn tượng tốt về cô. Anime thứ 2 của của nữ đạo diễn này, No Game No Life, là một sự bùng nổ – bùng nổ về tính đại chúng và bùng nổ về phong cách biến ảo bắt mắt. Ishizuka hoàn thiện kỹ năng của mình qua các anime chuyển thể kế tiếp: Hanayamata, Prince of Stride, movie No Game No Life Zero (Trò chơi sinh tử: Điểm bắt đầu). Năm 2018, lần đầu cô kiêm cả vai trò người sáng tác khi thực hiện anime nguyên tác Sora Yori mo Tooi Basho. Kỹ thuật biên tập dứt khoát, khả năng khắc họa chiều sâu nhân vật, sự kiểm soát thuần thục yếu tố hình ảnh… đã làm nên cảm giác trọn vẹn ở series anime khám phá Nam Cực này, đánh dấu một đỉnh cao sự nghiệp của Ishizuka tại Madhouse.

Suzuki Kaoru

鈴木薫
(1995/2013)

suzuki kaoru - doukyonin

Sự khác biệt giữa Suzuki Kaoru và các nhân vật được liệt kê ở đây là Suzuki đảm đương cả hai mảng đạo diễn lẫn sản xuất. 1998 là năm bà nhận được công việc đạo diễn tập, bắt đầu từ series Princess Nine. Từ đó đến nay danh sách phim của bà vẫn không ngừng mở rộng. Tuy mãi 2013 mới điểm danh vào hàng ngũ đạo diễn chính với Pupipoo!, nhưng trước đó bà đã làm trợ lý đạo diễn nhiều lần. Song song với công việc đạo diễn, Suzuki còn làm trong bộ phận sản xuất của J.C. Staff và đã chạm tay đến rất nhiều tựa phim danh tiếng trên cương vị này: Sakurasou, Toaru Kagaku no Railgun S, WIXOSS… Có thể nói sản xuất mới là phương diện ấn tượng hơn khi người ta nhìn vào bảng thành tích của bà.

Suzuki thử sức đạo diễn lần nữa vào năm 2017 với Dive!!, rồi lại tất bật quay sang làm sản xuất cho Kujira no Kora wa Sajou ni UtauPlanet With. Xong đâu đó, bà vẫn không quên việc đạo diễn: hiện tại, mùa đông 2019, Suzuki đang làm đạo diễn dẫn dắt câu chuyện của anh nhà văn và bạn mèo cùng phòng trong series Doukyonin/My roommate is a cat đến hồi kết thúc.

Kaori

かおり
(2000?/2013)

Kaori - Endro

Kaori: lúc thì được ghi nhận là Fujita Kaori, lúc thì Komori Kaori, tùy giai đoạn, rồi rốt cuộc được thống nhất chỉ gọi đơn giản là Kaori (nhưng cũng vì vậy mà việc lần theo dấu cô trên các trang thông tin không phải dễ). Kaori đã có mặt trong làng anime từ đâu đó quãng 2000 ở vị trí hoạt họa viên, cũng có khi tham gia vào bộ phận thiết kế, cho các tựa phim của Bones hay Madhouse chẳng hạn. Nghệ danh vỏn vẹn “Kaori” được cô sử dụng khi bước vào hàng ngũ đạo diễn tập, có lẽ bắt đầu từ OVA .hack//Quantum năm 2010.

Thuở ấy Kinema Citrus là studio non nớt mới thành lập, mà tại đây Kaori đã gắn bó khăng khít từ những ngày đầu, và cũng đây là nơi sự nghiệp đạo diễn chính của cô khởi động. Ở Kinema Citrus, cô là người cầm lái cho Yuyushiki, Oshiri Kajiri Mushi vào năm 2013, và trợ lý đạo diễn cho Scorching Ping Pong Girls năm 2016. Gần đây Kaori tham gia đạo diễn Miira no Kaikata (2018) là phim biến xác ướp thành thú cưng và anime nguyên tác Endro (2019) là phim biến ma vương thành bé gái. Điểm chung dễ thấy trong các phim của cô là sự ngọt ngào đáng yêu từ tương tác nhân vật và các sự kiện đời thường.

Yoshimura Ai

吉村愛
(2003/2013)

Yoshimura Ai - Oregairu

Yoshimurai Ai đã có mặt trong đội ngũ quản lý sản xuất anime ở Sunrise từ độ 2003. Đến 2006, cô chuyển qua tham gia chỉ đạo/phân cảnh cho Gintama, cũng như nhận hỗ trợ các tựa Kuroshitsuji hay AnoHana bên ngoài công ty. Vị trí trọng đại đầu tiên của cô là làm trợ lý đạo diễn cho series Danshi Koukousei no Nichijou (2012). Đây đều là những kinh nghiệm quý báu, nhưng Yoshimura chỉ thật sự phất lên khi bắt đầu cộng tác lâu dài với Brain’s Base, mà series Yahari Ore no Seishun Love Comedy wa Michigatteiru (Oregairu) của hãng này là một cú hit rất đáng hài lòng cho cô đạo diễn Yoshimura mới lần đầu ra mắt.

Yoshimura có chuyển thể shoujo romcom Ao Haru Ride với Production I.G. vào năm 2014, nhưng bạn tốt Brain’s Base cũng luôn sẵn sàng bên cô khi dựng tới những anime nhắm vào khán giả nữ: Cheer Danshi là anime về một đội nam nhảy cổ động, và Dance with Devils là một phim nhạc kịch đầy các anh trai đẹp. Biết được thế mạnh này, Grizzly – một nhánh mới tách ra từ MAPPA sau Yuri on Ice với sứ mệnh chuyên trị BL – đã mời cô lèo lái tác phẩm OVA khai trương cho hãng: Yarichin Bitch-bu. Công việc đạo diễn của Yoshimura có vẻ khá thuận lợi; trong năm nay 2019, cô sẽ còn đạo diễn một series nguyên tác ở Production I.G. là Kabukichou Sherlock.

Yamazaki Mitsue

山﨑みつえ
(2006/2013)

yamazaki mitsue - tada kun 2

Vào năm 2006, Yamazaki Mitsue được ghi nhận là người vẽ bảng phân cảnh cho TV special Rozen Maiden Ouverture, studio Nomad. Cô đảm nhận một số công việc đạo diễn nhỏ nữa với Itazura na Kiss, Kurenai, Kampfer. Bàn đạp đáng chú ý trong sự nghiệp của Yamazaki là khi cô được chọn làm trợ lý đạo diễn cho Mawaru Penguindrum và có nhiều đóng góp quan trọng xuyên suốt tác phẩm, mà từ đây Yamazaki sẽ được nhớ đến như một môn đồ hiện đại của trường phái Ikuhara (nhất là cô còn tiếp tục tham gia vào Yurikuma Arashi năm 2015 cũng do Ikuhara Kunihiko đạo diễn).

NSX tìm đến Yamazaki để đặt hàng nhiều hơn: năm 2013, cô đạo diễn cho 2 mùa Hakkenden. Danh tiếng làm shoujo của Yamazaki được củng cố hơn: năm 2014, cô đứng ra chuyển thể Gekkan Shoujo Nozaki-kun ở Dogakobo, rồi đây cũng chính là series thành công xây dựng tên tuổi cho cô. Khả năng tạo khung hình tác động kịch tính, xu hướng dùng nhiều hiệu ứng âm thanh đặc biệt, và sự khéo léo lồng ghép âm nhạc ứng với hình ảnh… giúp Yamazaki thể hiện rất trôi chảy nhiều yếu tố hài hước. Sự ra đời của một nguyên tác anime hài tình cảm đáng yêu trong năm vừa rồi, Tada-kun wa Koi wo Shinai, là một diễn tiến rất hợp lý từ những thế mạnh của cô. Trong kho khả năng của Yamazaki còn một khía cạnh khác là tài diễn tả tính khêu gợi (cùng một hội với Ikuhara & Nakamura Shouko là vậy), mà không chừng đặc điểm này sẽ có cơ hội bộc phát trong anime ecchi Dumbbell Nan Kilo Moteru do cô đứng tên đạo diễn, hợp tác cùng người quen Dogakobo cho suất hè 2019.

Deai Kotomi

出合小都美
(2004/2014)

Deai Kotomi - Rolling Girls

Vốn hứng thú với phim người đóng hơn, nhưng Deai Kotomi khẳng định rằng Cowboy Bebop là một lý do mạnh mẽ đã lôi cuốn cô đến với anime. Deai sung sướng được làm việc với thần tượng Watanabe Shinichiro ngay từ khi mới vào nghề, dù đấy chỉ là công việc trợ lý sản xuất cho Samurai Champloo (2004). Dần dà cô lên được chức đạo diễn tập & vẽ bảng phân cảnh cho Michiko to Hatchin, Kimi ni Todoke, Sakamichi no Apollon (gặp lại Watanabe!)… Deai tham gia tích cực vào mùa đầu Gin no Saji, vừa đảm nhận các tập phim nhỏ, vừa làm trợ lý đạo diễn, để rồi đến năm 2014, cô tiến lên vai trò đạo diễn chính khi Gin no Saji bước vào mùa thứ 2.

Như con đường thử thách mà nhiều người phải trải qua, sau khi làm tốt tác phẩm chuyển thể, Deai được giao quán xuyến một anime nguyên tác: Rolling Girls (2015), cũng là nguyên tác đầu tiên của Wit Studio. Bộ phim khởi đầu đầy cá tính ấn tượng, song không gặt hái nhiều tiếng vang sau đó. Dẫu vậy, ý nghĩa quan trọng của Rolling Girls trong danh sách phim tại Wit cho thấy rằng Deai được NSX đánh giá rất cao. Cô vẫn hỗ trợ nhiều dự án đây đó trong ngành, và sau lần đóng góp cho Natsume Yuujinchou 4, Deai trở thành đạo diễn cho Natsume Yuujinchou 5 & 6 trong những năm gần đây.

Okada Mari

岡田麿里
(1998/2018 – 1976)

okada mari - maquia

Có mấy ai yêu thích tìm hiểu anime mà còn chưa biết đến Okada Mari? Okada đã là một người nổi tiếng trong ngành từ lâu, tự truyện của cô kịch tác gia ăn khách còn được xuất bản cho cộng đồng quốc tế, nhưng chẳng ai ngờ lại có ngày người ta nói về cô như một đạo diễn. Thuở còn vô danh, ý định ban đầu của Okada là làm việc soạn thảo màn chơi game, nhưng dòng đời đưa đẩy cô nhận đánh máy bản thảo cho anime, rồi bất ngờ được giao viết kịch bản 5 tập DT Eightron năm 1998. Okada tìm thấy ngõ vào thế giới anime: cô viết kịch bản, biên soạn hàng loạt series, tạo ấn tượng qua True Tear, Kuroshitsuji, Toradora,… rồi vang danh qua hai nguyên tác Hanasaku Iroha, AnoHana – nơi dấu ấn sáng tạo cùng những mối quan tâm riêng tư của cô hiện lên rõ nét nhất. Chủ trương của Okada để nhân vật bộc lộ cảm xúc mãnh liệt có người khen lẫn kẻ chê, nhưng nhìn chung số fan ngày càng đông đảo luôn sẵn sàng ủng hộ tác phẩm nào gắn tên cô trong đấy. Được đà, Okada chắp bút cho nhiều dự án lớn: Nagi no Asukara (2013), Mobile Suit Gundam: Iron Blooded Orphans (2015), Kiznaiver (2016)… Thậm chí Kokoro ga Sakebitagatterunda (2015) còn là anime đo ni đóng giày cho cô tỏa sáng. Okada đã xây đắp một sự nghiệp biên kịch lẫy lừng.

Không chỉ khán giả, người trong ngành cũng cực kỳ xem trọng Okada. Chính NSX ở P.A. Works, studio thân thiết với cô, đã đề xuất thực hiện một anime “100% Okada”, tức phải có cô ở vai trò đạo diễn. Các anh tài trong ngành tề tựu về giúp đỡ khi hay tin, vì muốn phim ra mắt thật hoàn hảo. Lấy chủ đề tình mẫu tử, mang hình thức lộng lẫy và nội dung vừa thân tình vừa hùng tráng, phim điện ảnh SayoAsa (Maquia: Chờ ngày lời hứa nở hoa) đã được chào đời kỳ thú như vậy.

Những đạo diễn khác

 

Sức người có hạn, mình chỉ có thể giới thiệu chi tiết cho bấy nhiêu cá nhân. Những đạo diễn được xếp vào mục cuối này là những người mình nghĩ chưa nổi bật, hoặc họ có điểm nổi bật mà mình không biết nhiều để bàn luận. Chẳng hạn Kosaka Harume đáng lẽ phải xếp vào hàng đạo diễn lâu năm vì đã có mặt từ những năm 90, nhưng ngoài đóng góp lớn của bà cho các tập Sailor Moon và vài tác phẩm đạo diễn lạ tai như Kaze no Shoujo Emily, Gokujou!! Mecha Mote Iinchou… thì mình không thể xâu chuỗi gì nhiều và chỉ kể ra được đến thế. Minato Mirai là trường hợp đã đạo diễn những tác phẩm quen tai hơn như Fate/Kaleid Liner Prism Illya (2013-2014) và Masamune-kun no Revenge (2017), nhưng đấy cũng là tất cả những gì mình biết vì không đủ thời gian đào sâu hơn. Bên cạnh đó, Teramoto Yukiyo sở hữu vốn tác phẩm vào hàng khá khẩm, song lý do cái tên này ít được mình quan tâm là vì quá trình đạo diễn của cô chỉ tập trung vào dòng phim thiếu nhi, như 3 movie Doraemon và 4 mùa Kaitou Joker.

Vì mục đích của bài viết là tìm hiểu tổng quan về tình hình đạo diễn nữ, nên dù không thể liệt kê thật chi tiết, mình vẫn muốn điểm nhanh qua những cái tên mà mình dò ra được. Kubo Amica là một ca thú vị vì cô chỉ xuất hiện duy nhất một lần trên giang hồ để đạo diễn anime Urahara (2017) với dàn nhân sự toàn nữ, nhưng dù được quảng bá là vậy thì kết quả về sau Urahara có vẻ khá im lìm. Watanabe Kotono là nhân sự Madhouse, mới vào nghề 4 năm đã tung ra tác phẩm đạo diễn Btooom! (2012), nhưng sau cú nổ bùm này thì cô lại lùi về những vị trí nhỏ. Hoạt họa viên gốc Ghibli như Satou Masako cũng lăm le làm đạo diễn với tác phẩm ra mắt Anima Yell! ở Dogakobo trong năm 2018. Một cái tên tương đối hứa hẹn nữa để kể ra là Kamakura Yumi, sau nhiều năm làm đạo diễn tập thì cuối cùng cô đã được thừa hưởng quyền quản lý chính cho mùa 3 Working!!! (2015) và một sequel năm 2018 của loạt Inazuma Eleven. Giống với quá trình đi lên của Deai Kotomi, phần 2, 3 của các phim tiếng tăm có thể là cơ hội cất nhắc đạo diễn mới, và Miyawaki Chizuru cũng chớp lấy thời cơ này để tiếp quản vị trí đạo diễn cho anime Gintama từ năm 2015.

Đạo diễn nữ cũng dễ nhận lãnh các phim nhắm vào khán giả nữ hơn, hoặc nếu nhìn theo góc độ khác, họ có thể bộc lộ tinh thần fangirl ẩn sâu trong mình khi bắt tay vào đạo diễn, mà kết quả là một số người sẽ gắn với các tựa phim shoujo, bishounen. Đơn cử như Yamamoto Soubi, cô gái sinh năm 90 đủ sức tranh danh hiệu nữ đạo diễn trẻ bằng anime Meganebu (2013) cùng OVA & series Kono Danshi. Matsumura Juria đạo diễn cho TsukiPro the Animation năm 2017. Tagashira Shinobu đạo diễn cho Diabolik Lovers năm 2013 (dù cô cũng bỏ túi một dự án rất đặc biệt là Itou Junji Collection). Kamiya Tomomi là đạo diễn của Rokuhoudou Yotsuiro Biyori (2018), một anime về các anh trai mở tiệm trà. Khi gộp những cái tên này lại, họ cho thấy điểm tương đồng về thể loại và đối tượng khán giả, nhưng xét riêng ra từng người thì số lượng phim của các cô vẫn còn khá ít ỏi, và khán giả cần thêm thời gian để biết những đạo diễn nữ mới mẻ này sẽ đi đâu về đâu.

=========

KẾT

Lần đầu tiên mình biết đến khái niệm “đạo diễn nữ” là lúc mới chập chững khám phá thế giới anime và đụng phải phim của Matsumoto Rie vừa khởi chiếu. Đó là một phát hiện hy hữu. Và cũng rất mới lạ, đáng tò mò. Vào lúc ấy mình không thật sự ý thức những vấn đề giới tính, chỉ hiếu kỳ về cô giống kiểu người ta sẽ hiếu kỳ về một anh lính cứu hỏa chuyển nghề vẽ manga. Mà Kyousougiga năm ấy không chỉ tốt bình thường: Matsumoto đã để lại một màn trình diễn ngoạn mục. Xem phim của Matsumoto rồi biết về thành tích tuổi trẻ tài cao của cô đem đến cho mình cảm giác vô cùng phấn khích. Vì có lẽ mình, trong sâu thẳm, đã trông đợi một thành phẩm non nớt, nghiệp dư, còn cô thì xuất hiện và thổi phăng giả định hạn hẹp ấy. Đó là cảm giác phấn khích vì được thấy một đạo diễn nữ hiếm hoi, đồng thời cũng phấn khích vì quan trọng hơn cả giới tính nữ và sự hiếm hoi là một cá nhân đã làm ra tác phẩm xuất sắc vượt ngoài sức tưởng tượng. Matsumoto cũng giống như nhân vật Koto trong Kyousougiga: các anh chị trong nhà cứ việc chí chóe tranh giành phần hơn, còn cô thì thản nhiên đi ngang qua, vung một nhát búa, và làm nên một cơn địa chấn. Chuyện cô là nữ có lẽ chỉ là một sự tình cờ.

Thế giới trong Kyousougiga nhộn nhịp vì trong ấy có vô vàn nhân vật kỳ thú cùng sinh sống. Đấy là sự nhộn nhịp mình yêu thích trong thế giới giả tưởng, cũng là sự nhộn nhịp mà mình hy vọng sẽ thấy nhiều hơn khi nói về những nhà làm phim ngoài đời thực. Khi các cá nhân có được sự tự do biểu đạt, họ tạo thành một cảnh quan anime muôn màu muôn vẻ, không thể bị ràng buộc bởi một định nghĩa chung về thiên hướng hay tiềm năng. Nhiều đạo diễn nữ sẽ vui lòng nhận dựng phim BL, nhưng một đạo diễn nữ khác, Yamada Naoko, lại nức tiếng vì hương vị yuri phảng phất trong tác phẩm. Những nhận xét người ta đưa ra về thể loại phim của các đạo diễn nữ, do vậy, chỉ có thể mang tính tương đối, cũng như nhận xét về điểm mạnh yếu không thể là tuyệt đối. Số phim dưới tay Yamada chỉ đạo sẽ củng cố quan niệm của NSX Nishimura rằng phụ nữ thích loay hoay với những việc tủn mủn hằng ngày, nhưng không thiếu người hâm mộ ngoài kia háo hức đón xem những phim dịu nhẹ của Yamada về cuộc sống nữ sinh thường nhật. Ở mặt còn lại, tính lý tưởng mà Nishimura đề cao cũng có ở Matsumoto Rie nếu khán giả xét đến các nhân vật và thế giới sinh động mà cô đã kiến thiết.

Bài viết không hề có ý định tán dương hễ đạo diễn nữ là hay, là tốt. Rất nhiều chị em vẫn chật vật chưa tìm ra được dấu ấn, và thực tế có không ít fan anime còn thẳng thừng bảo rằng Itou Junji Collection của Tagashira Shinobu là một thành phẩm đáng thất vọng. Khi tìm hiểu từng cá nhân đạo diễn kèm tác phẩm và con đường sự nghiệp, ý định của mình là bày ra một bức tranh lớn, có thể nhìn gần mà cũng có thể phóng ra xa, để thấy điểm giống và khác nhau đan xen giữa những con người này, và để không dễ bị sa vào một nhận định tuyệt đối khiến ta vô tư gạt bỏ hoàn toàn một tác phẩm hay một nhà làm phim nào đó. Yamamoto Sayo từng bị đá ra khỏi dự án Sennen Joyuu, nhưng giờ đây cô là đạo diễn ngàn vàng được khắp nơi săn đón. Những chuyện bất ngờ luôn có thể xảy ra.

=========
Nguồn tra cứu & tham khảo:
http://anidb.net
http://animenewsnetwork.com
http://myanimelist.net
https://onnanokantoku.wordpress.com
https://otakulounge.wordpress.com/2014/03/18/10-female-anime-directors/
https://otakulounge.wordpress.com/2018/11/15/10-more-female-directors/

Advertisements
Leave a Comment

Comment gì đi bạn, mình sẽ lắng nghe :D

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: