Skip to content

[Review] Hana to Alice: Satsujin Jiken //movie//

23.03.2018

Lần đầu xem Hana to Alice: Satsujin Jiken, mình vẫn chưa biết rằng Iwai Shunji là đạo diễn lẫy lừng của làng điện ảnh Nhật Bản. Mình chỉ biết có ông đạo diễn live-action nào đó muốn làm một chuyến dạo chơi ở lĩnh vực anime, và mình đã chuẩn bị sẵn tinh thần để chê phim của tay đạo diễn bon chen này. Nhưng kết quả bất ngờ là: mình rất thích Satsujin Jiken. Hình thức độc lạ của nó cho phép khán giả được đổi gió, tạm rời khỏi phong cách quen thuộc của anime trên thị trường, còn nội dung thì là sự hòa hợp của góc nhìn tinh tế và hài hước trước những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống.

Cái tên Iwai Shunji được “nhập” về Việt Nam qua những con đường khá vòng vo: Vài năm trước, tiểu thuyết “Thư tình” của ông đổ bộ vào nhà sách – là nguyên bản cho live-action cùng tên cực kỳ ăn khách năm 95. Khán giả VN chưa kịp biết phim của ông này tròn méo ra sao thì năm ngoái, cái tên này được nhắc đến thêm lần nữa, vì bản anime chiếu rạp Pháo Hoa: Nên ngắm từ dưới hay bên cạnh? thực chất được biến tấu dựa trên một live-action năm 93, lại của Iwai nốt (và cũng rất nổi). Trong năm nay, đến lượt sách “Hana, Alice, và lời nguyền của linh hồn Judas” được xuất bản, dưới ngòi bút Otsuichi. Song tất cả đều là những màn giới thiệu gián tiếp. Muốn hiểu tiếng tăm của Iwai, người ta nên xem thẳng các bộ live-action, hoặc, nếu là người yêu thích anime, tìm đến Hana to Alice: Satsujin Jiken, một anime movie năm 2015 mà sau đây mình sẽ bàn kỹ hơn.

AH - friends

HANA TO ALICE: SATSUJIN JIKEN
(Hana và Alice: Vụ án mạng / The Case of Hana & Alice)
Công chiếu: 20 tháng 2, 2015
Thời lượng: 98 phút
Thể loại: slice of life, mystery, drama
Đạo diễn & kịch bản & âm nhạc: Iwai Shunji

Iwai Shunji là nhân tố nổi bật nhất mình chọn để mở đầu bài viết cũng bởi ông thuộc hàng auteur muốn để lại dấu ấn càng nhiều càng tốt trong tác phẩm. Iwai vừa là nhà sản xuất, vừa là đạo diễn, biên kịch, biên tập, kiêm luôn soạn nhạc cho anime Satsujin Jiken, khiến bộ phim đích thực là một đứa con tinh thần mang họ Iwai. Một lưu ý nhỏ nữa: Satsujin Jiken vốn là prequel cho live-action Hana to Alice hồi 2004, kể về 2 đứa Hana với Alice đã kết bạn như thế nào. Do nội dung độc lập với nhau nên không cần xem bản live-action vẫn thưởng thức được bản anime. Tuy nhiên, nếu biết trước rằng Hana to Alice (2004) thuộc dạng phim hài, đời thường, thì kỳ vọng của các bạn chắc sẽ bớt bị lạc hướng khi đến với anime Satsujin Jiken.

Tetsuko “Alice” Arisugawa sau khi chuyển nhà cùng mẹ thì cũng chuyển đến trường trung học mới, xui xẻo thế nào em lại ngồi trúng cái bàn (nghe đồn) bị Judas ám. Ai mà biết Judas có nghĩa là gì. Nhưng chỗ ngồi mới khiến Alice bị cô lập, còn mọi người thì cứ rỉ tai nhau những tin đồn khó hiểu, buộc em phải thân chinh điều tra rõ ngọn ngành. Đầu mối trung tâm là cô nữ sinh Hana đang ẩn dật trong “ngôi nhà hoa”, không chịu ló mặt đến lớp. Tò mò tìm gặp Hana, Alice cùng cô bạn mới này liền bị cuốn vào một cuộc phiêu lưu giải mã bí ẩn, với đầy những khúc ngoặt éo le.

Nghe thì cứ như một câu chuyện trinh thám, nhưng kỳ thực, chất đời thường mới là thứ lan tỏa mạnh mẽ nhất suốt chiều dài Satsujin Jiken. Nếu đã quen với phim truyện Nhật Bản, có lẽ bạn cũng biết đến khả năng kỳ diệu của các nhà làm phim bên Nhật khi dựng lên tác phẩm từ những chi tiết nhẹ hều như không khí, tưởng không có gì quan trọng mà lại thành cả một bộ phim. Kiểu phim ấy cần đến sự nhâm nhi thưởng thức mà nếu sốt ruột chút thôi thì người ta sẽ để tuột mất giá trị.

Oái oăm là Satsujin Jiken theo đuổi thứ mỹ cảm dịu nhẹ này, trong khi vẫn đặt nền móng trên một “vụ án mạng” ly kỳ. Đúng ra, đến với Satsujin Jiken là trải nghiệm sự tương phản giữa nội dung “chết chóc” dành cho nhân vật trong phim so với cảm giác đời thường dành cho khán giả xem phim. Là các góc quay nghiêng (có khi đến 90 độ) thể hiện sự bất an, nguy hiểm, trong lúc màu sắc ánh sáng lại loang thành những vệt màu thơ mộng trên màn hình, như những thước phim kỷ niệm của tuổi học trò. Câu chuyện quá khứ được kể lại bằng hình nền màu hồng toàn tập, đối lập với nhân vật tô bằng màu xám đen u ám. Đó là cách vừa thừa nhận cảm xúc nhân vật, vừa xen kẽ góc nhìn của riêng phim. Chất “trinh thám” vẫn thuộc về nhân vật, nhưng bằng cách thấu hiểu nhân vật và hoàn cảnh, khán giả sẽ nhận ra chất đời thường trong đấy. Có những sự kiện ta dễ cho rằng ngớ ngẩn, thì với Hana hay Alice, chúng lại nghiêm túc cực độ, liên quan đến sự sống cái chết chứ chẳng chơi.

Không có lời dẫn hay độc thoại nội tâm, phim không phải là một hành trình tâm lý cá nhân; và sự tương phản kể trên đã đặt khán giả vào vị thế những người quan sát: ta bồi hồi, hay buồn cười, nhìn thấy sự trẻ trung của lũ học trò. Satsujin Jiken, qua góc nhìn đời thường, tập trung vào phát triển nhân vật, cũng như đắm mình trong từng khoảnh khắc hiện tại. Tuổi trẻ của Alice không chỉ có cảm giác lạc lõng khi chuyển trường, phải đối phó với bọn bắt nạt, mà còn có những tin đồn, những kiểu mê tín trong trường lớp, và những trò lố đáng xấu hổ không biết giấu mặt vào đâu. Satsujin Jiken nhìn ra được những khía cạnh thân thuộc đến mức vặt vãnh trong cuộc sống. Ngay cả cốt lõi của phim – bí ẩn về Judas – cũng xem như là một phiên bản truyện ma được lưu truyền qua miệng lưỡi mắm muối của tụi học trò.

Bên cạnh một bối cảnh chân thật, Satsujin Jiken còn đưa ra góc nhìn về thời học trò dại dột qua cách khắc họa nhân vật tỉ mỉ. Nhờ ảnh hưởng của live-action, nhân vật trong phim luôn “động”, với những cử chỉ khoa trương cũng có, mà nhỏ nhẹ cũng có. Cô bạn Mu trong lớp vắng có thể leo chễm chệ lên bàn, ngồi đung đưa chân, vừa tám với Alice vừa dùng tay linh hoạt minh họa cho lời nói. Trước đó, cảnh Mu và Alice nói chuyện trên sân trường, trong khung hình cũng dày đặc những hành động tinh vi, như việc những học sinh tự nhiên đi lại ở hậu cảnh, còn trên tiền cảnh: Alice mân mê một sợi dây để lộ vẻ bối rối, Mu vừa giây trước chỉ trỏ lên mặt dạy dỗ, mấy giây sau đã đạp lên chân bạn, hờ hững như đang tập động tác thể dục. Khi Alice và Mu đổi chủ đề để cùng nhìn về một nhân vật khác bên ngoài khung hình, Mu đứng chống nạnh, còn Alice giữ yên hai chân rồi chậm rãi xoay người một cách điệu nghệ. Hàng loạt chi tiết xảy ra song song với đoạn đối thoại làm bật lên tính hiện thực của cảnh phim, đồng thời làm rõ hơn hình ảnh nhân vật: Mu là một đứa nóng tính, thẳng thắn, nhưng vẫn có tư tưởng bắt nạt, còn Alice thì thật thà mà khôn khéo, bản lĩnh (và còn có tập ba lê). Đối với thế giới anime mà nói thì đây là một trình độ đáng kinh ngạc về khắc họa cử chỉ nhân vật.

Và những nhân vật sinh động ấy của Satsujin Jiken được đưa lên màn ảnh chính là bằng… phương pháp rotoscope! Đối với nhiều fan anime, đây cũng là kẻ tử thù sau “sự cố” Aku no Hana! Hoạt họa rotoscope không được đa số hoan nghênh vì nhiều lý do, nhưng như đã thấy qua Satsujin Jiken, nó có ưu thế về tính hiện thực, và là công cụ phù hợp nhất cho một đạo diễn gốc live-action như Iwai Shunji. Cũng như người đồng đạo Aku no Hana từng phát huy sức mạnh rotoscope trong cảnh chuyển động cực chậm ở lớp học ban đêm (tập 7), Satsujin Jiken nhận ra hiệu quả của slow motion bằng rotoscope trong việc tô đậm ấn tượng của hành động. Alice là một nhân vật hiếu động, biểu đạt cảm xúc bằng ngôn ngữ cơ thể qua những lần chạy bộ, múa ba lê, nên slow motion đã giúp bắt lại hành động, cũng là cảm xúc, của nhân vật này. Công bằng thì mình cần ghi nhận rằng hoạt họa của Satsujin Jiken vẫn còn điểm yếu. Tuy là phim điện ảnh nên chuyển động mượt mà hơn Aku no Hana, nhưng chất lượng không nhất quán. Thiết kế nhân vật Satsujin Jiken trông trẻ hơn, mắt cũng to hơn phim kia, nhưng biểu cảm bằng nét mặt nói chung không phải là dễ nhìn cho lắm.

Hòa điệu với hình ảnh là ngôn ngữ âm nhạc, với giai điệu vĩ cầm và dương cầm du dương, cho khán giả thả hồn lâng lâng cùng mấy đứa nhỏ. Mình tập trung bàn về khía cạnh đời thường của Satsujin Jiken, vì âm nhạc của phim cũng thế: âm nhạc vui tươi, sôi nổi giúp định hình cho bầu không khí. Phương diện “án mạng” sẽ biến mất hoàn toàn nếu ta chỉ lắng nghe bộ phim thông qua âm nhạc. Iwai Shunji còn soạn nhạc và viết lời cho bài hát cuối phim – Fish in the Pool. Một ghi chú nữa là Iwai ngoài đặc điểm “đạo diễn live-action nổi tiếng” thì còn xuất thân từ công việc đạo diễn phim ca nhạc. Ông rất để tâm dùng âm nhạc để tôn lên cảm xúc, và sẵn sàng dành ra những thước phim không lời thoại, để âm nhạc được lên tiếng. Cuối cùng thì hai phân đoạn được nhấn mạnh nhất phim, theo mình, là sự kết hợp slow motion + âm nhạc khi Alice chạy bộ và khi hai đứa con gái cùng múa may giữa trời. Mặc kệ câu chuyện có đi đâu về đâu, cảm xúc cũng đã được thăng hoa trong hai ví dụ trên.

Satsujin Jiken là một cái rổ hội tụ những đặc điểm chẳng giống ai. Câu chuyện lan man của nó sẽ dẫn khác giả lạc từ đường này sang lối khác, từ công viên này đến quán cà phê kia, ta đành nhắm mắt đi theo và bỏ dở những dự định trước đó, vì cái quan trọng nhất nằm trong từng khoảnh khắc chứ không phải ở kết cục. Cả đội ngũ làm phim cũng ngộ lạ: Đạo diễn phim là một tay ngang về anime, nhưng bù đắp cho tác phẩm bằng hết thảy công lực ông đã tu luyện khi thực hiện phim người đóng. Ngoài Iwai, nhân lực làm phim đầy những người trẻ tuổi vô danh, thế mà ở thời điểm hiện tại nhìn lại, cũng đầy là những cái tên sáng giá. Kuno Youko gánh vác giúp khâu hình ảnh cho Iwai, trong vai trò đạo diễn hoạt họa của bộ phim; mà không dừng lại ở rotoscope, gần đây chị tiếp tục tỏa sáng trong một dự án hoạt họa phi truyền thống khác là Houseki no Kuni. Đạo diễn CGI Sakuragi Yuhei sau Satsujin Jiken thì nay đang tạo tiếng vang nhờ tham gia Japan Animator Expo và được cộng tác với Miyazaki Hayao trong tác phẩm mới nhất. Ngay cả anh họa sĩ cảnh nền người Ba Lan Mateusz Urbanowicz không biết ở đâu ra thì sau Satsujin Jiken cũng đã tham gia vẽ cảnh nền cho siêu phẩm Your Name năm 2016. Đặc điểm indie của Satsujin Jiken trở thành một bàn đạp, tạo điều kiện cho các nhà làm phim tự do thể nghiệm không bị gò bó, khám phá những điểm mạnh điểm yếu trong hình thức dàn dựng độc lạ, và được chống đỡ bằng một xương sườn kịch bản vừa lập dị, vừa tinh tế.

AH - hana to alice

Như nhiều tác phẩm thể nghiệm, lập dị khác, rủi ro của Hana to Alice: Satsujin Jiken là khó lấy lòng quảng đại quần chúng, nhưng nó có thực lực, có nhiều điểm mạnh thú vị, và tình cờ lại là thứ mình thích, nên mình viết bài về nó. Vốn chỉ yêu thích Satsujin Jiken từ khía cạnh nội dung thì dần dần những phát hiện về kỹ thuật và đội ngũ thực hiện càng khiến mình hứng thú hơn, vì cứ tưởng phim không dính dáng gì đến dòng chảy lớn của anime, thì hóa ra mình còn gặp lại những gương mặt trẻ của đội ngũ này trong các tác phẩm khác. Mình không nghĩ Satsujin Jiken cần nổi tiếng, nhưng có nhiều điều vẫn nên viết ra để mình nhớ hơn về phim, và để bộ phim đến được với đối tượng tiềm năng có thể sẽ rất yêu quý nó, chỉ khổ nỗi chưa nghe qua tăm hơi của anime này bao giờ.

Advertisements
One Comment
  1. Đặng Văn Hưng permalink

    Đọc được mấy bài review ở blog, cảm thấy đã =) Mình xem nhiều phim, cảm thấy độ phổ thông không cao (Ping Pong, Tekkon kinkreet, tatama galaxy, death parade, pom poko, mind game,…), muốn tìm review hoặc cảm nhận film, mà thấy chẳng có nhiều. Ghim chỗ này, đọc dần dần. Thanks you!

Comment gì đi bạn, mình sẽ lắng nghe :D

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: