Skip to content

Tâm lý nhân vật qua bàn tay đạo diễn của KyoAni – Kỳ 2: Tránh né như Yamada

12.06.2017

Bài viết kỳ 2 phân tích phong cách đạo diễn Yamada Naoko, tiếp nối kỳ 1 về Takemoto Yasuhiro. Trong hai người này thì dạo gần đây Yamada có Koe no Katachi khá nổi, cho nên cũng được nhiều dân mạng ưu ái nhắc tên. Blog Sakuga có hẳn loạt bài dịch dày công của về các cuộc phỏng vấn Yamada. Vì không thể đua đòi với những tài liệu công phu đó, nên ở đây mình chỉ muốn nêu góc nhìn cá nhân về hiệu quả của phong cách cô Yamada này so với bác đồng nghiệp Takemoto kỳ trước.

tls - demo

“Mẫu nghiên cứu” cho kỳ 2:

YAMADA NAOKO

– Tamako Love Story (director, storyboard)
– Koe no Katachi / A Silent Voice / Dáng hình thanh âm (director, storyboard)
– Kobayashi-san Chi no Maid Dragon (episode director & storyboard ep 8)

Warning: có spoiler cho những tựa phim trên, nhất là Koe no Katachi.

=========

Nếu cố đi tìm những đặc điểm trình bày trong bài viết kỳ 1, ta sẽ thấy rằng đạo diễn của bài viết hôm nay, Yamada Naoko, dường như không để nhân vật tự đối chất với bản thân. Trong khi Takemoto sẵn sàng phơi bày toàn bộ nội tâm các nhân vật lên màn hình bằng đủ mọi hình ảnh tưởng tượng, tượng trưng, phản chiếu, thì khi đến với Yamada, ta rất cần tôn trọng sự riêng tư của họ. Điều đó không có nghĩa Yamada né hết những cảnh tâm lý, ý mình là cô có vẻ chuộng một lối thể hiện gián tiếp hơn. Thay vì Takemoto trực tiếp đưa ta vào thế giới phong phú bên trong, thì đối với đạo diễn Yamada, tâm lý để lại dấu ấn qua thế giới thực bên ngoài, thông qua đối thoại giữa người này với người kia.

Như từng nhắc đến trong bài review Koe no Katachi, mình cho rằng khuôn mặt là nơi rất giàu biểu cảm giao tiếp, có nhiều “tiếng nói” nhất. Đặc biệt là đôi mắt. Khi quan sát một người, ta có thể tự nhiên ngắm lưng, ngắm tóc, nhưng một khi hai ánh mắt chạm nhau thì y như rằng có một cầu nối sẽ kéo hai người gần lại về khoảng cách tâm lý, mà không phải ai cũng sẵn sàng cho sự gần gũi ấy. Nên Ishida luôn muốn chạy trốn khỏi ánh mắt. Điều này thể hiện rõ qua cảnh xung đột giữa đám bạn trên cầu. Ở đây Ueno có một dấu X, cho thấy cô bị Ishida từ chối, tuy nhiên khuôn mặt của những người còn lại cũng bị máy quay giấu đi, như thể Ishida muốn trốn chạy tất cả bọn họ. “Máy quay” di chuyển từ dưới chân Sahara lên cao, chưa kịp thấy được khuôn mặt thì đã bị cắt sang một hình cảnh vật thiên nhiên nào đó.

Hãy nhớ lại movie Shoushitsu, đạo diễn Takemoto phải tìm đủ cách để biến đoạn độc thoại nội tâm của Kyon cuốn hút hơn, với một tràng lời thoại cùng những cảnh minh họa dồn dập, mạnh mẽ. Ở đây, cuộc xung đột trong Koe no Katachi đã rất gay gắt ngay từ bản chất của nó, song Yamada lại tước đi cái phần “cuốn hút” của xung đột. Có sự tương phản rất lớn giữa giọng gằn giận dữ của Ueno, giọng the thé cãi lại của Kawai, với những cảnh quay trời nước lơ đãng trên màn ảnh. Rất nhiều cảm xúc quyết liệt nào đó đang diễn ra mà khán giả lại bị đẩy ra ngoài cuộc, không thể nào chứng kiến. Có lẽ những đạo diễn khác sẽ nhấn nhá đôi mắt long sòng sọc của từng người trong cuộc cãi lộn để làm khán giả sôi máu lên; còn Yamada, cô chọn cách dựng phim từ cảm giác nhân vật. Trải qua đoạn phim này, khán giả sẽ thấy vô cùng mệt mỏi, muốn các nhân vật kia im miệng lại và làm ơn đi chỗ khác chơi. Đó là cảm giác của Ishida.

Cuối đoạn xung đột cây cầu, khi mọi người ra về, còn lại Ishida muốn gạt đi cảm giác nặng nề bằng cách bàn chuyện nghỉ hè với Nishimiya. Ngay giây phút ngẩng đầu lên và đối diện trực tiếp với ánh mắt của cô bạn, Ishida thẫn thờ ngưng bặt lại. Máy quay ban đầu giới thiệu khuôn miệng gượng cười của Nishimiya, nhưng khi chiếu lên tới đôi mắt thì ta phải đối diện một thực tế khác: nỗi buồn bã xót xa không thể nào xoa dịu. Nó buộc Ishida hiểu rằng cậu đã thất bại trong nỗ lực tìm kiếm hạnh phúc, khiến bầu không khí một lần nữa càng chùng xuống nặng nề hơn. (Đoạn này cũng làm ta nhớ tới đoạn mẹ Ishida gặng hỏi cậu về những vụ bắt nạt, cậu liền đáp lại bằng giọng làu bàu, vô trách nhiệm, nhưng rồi cũng sựng lại khi bắt gặp đôi mắt ngấn nước của mẹ mình.) Đôi mắt bày ra một thế giới sâu thẳm, dễ thương tổn của mỗi người, mà Yamada đã cân đối phương diện giao tiếp này bằng cách tránh lạm dụng nó.

Đi kèm với việc tránh lạm dụng đôi mắt là việc Yamada ngày càng thuần thục hơn phương pháp thể hiện các ngôn ngữ còn lại của cơ thể. Nếu cái gượng cười của Nishimiya là nỗ lực của lý trí, thì đôi mắt cô là nơi thấm đượm những cảm xúc ngoài tầm kiểm soát. Cũng như vậy, lời nói chuyện hằng ngày của nhân vật đa phần là sản phẩm của lý trí, nó có thể giả dối, nhưng ngôn ngữ vô thức của những cái tay siết, cái chân bồn chồn, tấm lưng còng xuống là thứ ngôn ngữ vừa yên ắng, an toàn, lại thật thà hơn rất nhiều. Xen kẽ những cuộc chuyện trò mà Yamada dàn dựng sẽ là những shot cận cảnh một bộ phận cơ thể nào đó, để chộp lấy biểu hiện bên ngoài của những rung động bên trong. Yamada thậm chí khét tiếng vì luôn luôn chừa chỗ cho những cái chân được “phát biểu” cảm xúc. Đôi chân là cách cô đạo diễn quan sát nhân vật tự nhiên, thoải mái nhất, vừa biết được rất nhiều điều, vừa không xâm phạm thế giới riêng tư của ai, chưa kể là chúng có tác dụng phụ giúp khán giả phát huy trí tưởng tượng, tự tô vẽ thêm những phần còn khuyết.

Đoạn đối thoại Midori-Tamako trong Tamako Love Story và Tohru-Kobayashi trong Maid Dragon tập 8 là ví dụ. Khi khuôn mặt bị cố tình giấu đi, những cái tay và cái chân sẽ trở thành “nhân vật chính” của khung hình. Điểm chung của cả hai đoạn đối thoại này đều là sự giãi bày cảm xúc rất riêng tư: người nói tự bóc trần cảm xúc của họ, yếu ớt, chênh vênh; còn người nghe bất đắc dĩ bị kẹt trong tình huống đó. Nếu đã xem qua cả hai phim, ta cũng biết thêm rằng, cả Midori lẫn Kobayashi không ai thật sự muốn tham gia câu chuyện này, họ có những sự thật cần tránh né.

Khi khuôn mặt được phóng gần, ánh mắt của Midori và Kobayashi ban đầu liếc nhìn người nói, nhưng sau đó nhanh chóng dẫn khán giả đi một hướng ngược lại, trốn chạy khỏi tâm điểm của cuộc trò chuyện. Cả tỉ lệ khung hình cũng rất tương đồng, nhân vật được đặt sát vào một bên khung cho thấy sự gần gũi về mặt vật lý với người nói, nửa còn lại khung hình là không gian trống trải tương phản mà ánh mắt của họ tìm đến.

Sau khi người nói đã dứt lời, hai con người nãy giờ chịu trận lại càng bị đẩy thấp xuống một góc dưới cùng, sự nhỏ bé của họ đối lập lại với không gian rộng lớn, trống trải bao quanh. So với Kobayashi có được tiếng nói giải quyết vấn đề, thì phía bên phim kia Midori hoàn toàn bất lực. Hiệu quả trong Tamako Love Story mạnh hơn nhờ cách vẽ không gian ba chiều của phòng tập thể dục làm tăng cảm giác rộng và sâu, tỉ lệ Midori nhỏ bé hơn, thêm cả tư thế dựa tường, mắt cúi gằm. Trong movie Love Story, Tamako chỉ phải chịu nỗi sợ của sự thay đổi, còn đối với Midori, sự thay đổi là nỗi đau.

Midori trong Love Story ắt hẳn cũng có dằn vặt, đau đớn trước khi đi đến quyết định cuối phim, không thua gì sự giằng xé của Tohru trong tập 13 Maid Dragon. Tuy vậy, diễn biến tâm lý của Midori không-được-nói-ra, chúng chỉ là những đợt sóng ngầm bên dưới một bề mặt nước lăn tăn rất ít.

Ở kỳ trước, đạo diễn Takemoto có xu hướng muốn khán giả phải hiểu thấu mọi vấn đề – ông giải thích vấn đề bằng lời thoại, minh họa bằng thế giới tưởng tượng, tóm tắt bằng hình tượng trưng, liên tục gợi nhắc bằng những cái bóng phản chiếu. Yamada, ngược lại, không cần ta nắm hết vấn đề; mà quan trọng hơn, cô muốn in đậm cảm xúc trong ta. Công cụ đắc lực hỗ trợ cho cô là các kỹ thuật nhiếp ảnh và điện ảnh, cụ thể như bố cục, góc độ, ánh sáng, chuyển động,… Cô đưa “cảm giác máy quay” vào một bộ phim vẽ tay bằng cách đặt Mochizou và Tamako vào một khung hình cố định, rồi chụp lại từng thay đổi của cảnh vật theo các mốc thời gian trong ngày để thể hiện sự lúng túng, khó xử. Ở Koe no Katachi, cảm giác hốt hoảng của Ishida khi nhìn thấy Nishimiya đứng trên lan can được thị giác hóa bằng những cảnh mờ nhòe chắp nối; đường nét của “máy quay” bị mất tập trung tương ứng với sự rối loạn trong tâm trí nhân vật.

Yamada, có vẻ, không phải là một người kể chuyện chặt chẽ bằng Takemoto. Ví dụ trong phim Koe no Katachi, thời thơ ấu của các nhân vật có đoạn Ishida quẳng cuốn sổ của Nishimiya xuống nước, khiến cô phải lao theo tìm lại. Qua vài cảnh, khán giả chưng hửng khi thấy Ishida nhặt được cũng cuốn sổ ấy mà không hề có lời giải thích tại sao, trong khi chỉ cần thêm tí cảnh Nishimiya thả lại cuốn sổ xuống hồ nước như manga thì nội dung vừa rõ ràng, người ta vừa hiểu cảm giác bỏ cuộc của cô bé. Còn nói về cuối câu chuyện, cái kết cho Kawai trong manga nằm ở đoạn cô ôm chầm Nishimiya, ban đầu giả vờ khóc, nhưng sau đó một tiếng nói nội tâm làm cô nhận ra tính giả dối của mình, thế là từ khóc giả chuyển sang khóc thật. Yamada hy sinh hết những chi tiết này. Phim của cô lấy góc nhìn Ishida, chuyện của Nishimiya hay Kawai chỉ là một phần của thứ hiện thực lỏng lẻo trong cuộc sống, không cần giải thích.

Vài lời biện minh cho Yamada: cô làm phim bằng cảm xúc hiện thực. Takemoto giống một người kể chuyện toàn năng biết hết về nhân vật, sự kiện. Còn phần Yamada thì cô như thể đóng vai một nhân vật bí ẩn trong câu chuyện, nhanh nhảu xách máy quay đi theo nhân vật chính. Cô không biết những gì dàn nhân vật không biết. Khi “quay phim”, cô cũng tinh ý né những đau khổ riêng tư của họ ra. Nếu nhân vật muốn trốn chạy, thì “máy quay” cũng đầy cảm giác tránh né. Trong giây phút trầm mặc, nghiêm trang của Nishimiya, đạo diễn cũng chỉ có thể đứng nhìn từ xa sau lưng và chụp lại nỗi cô đơn, bé nhỏ của nhân vật, đối lập với một vũ trụ bao la rợn ngợp.

Điểm mạnh của Yamada không nằm trong cách kể, mà là cách tả. Phải chọn màu đẹp nào, phải đặt nhân vật trong tư thế nào, góc độ, tỉ lệ nào,… thì mới bật được cảm giác bên trong của họ? Khi Nishimiya bị Ueno xô vào hàng rào, Yamada đã gửi kèm vào khung hình những bông cúc với hàm ý sự trong sạch, vô tội của Nishimiya, dự báo khởi đầu mới cho hành trình gầy dựng lại tình bạn của cô sau đó. Yamada còn bỏ bớt những kịch tính quá đà để giúp đọng lại cảm xúc tinh khiết nhất, chẳng hạn như cắt bỏ âm thanh trong cảnh Ishida ném cát vào Nishimiya, hoặc cảnh Nishimiya nhảy lầu trong đêm pháo hoa. Khán giả thậm chí không được tận mắt chứng kiến cú nhảy của Nishimiya, mà chỉ cảm nhận qua đâu đó đằng sau tấm rèm lộng gió. Khi Yamada biết cảm xúc nào đã trọn vẹn rồi, cô mau chóng rút lui, để lại một khoảng lặng cho khán giả phải rùng mình.

Có thể nói, phim của Yamada tối giản rất nhiều yếu tố truyện kể, và tối đa rất nhiều kỹ thuật điện ảnh. Bộ phim chừa ra đầy rẫy chỗ trống cho khán giả tự hiểu lấp vào, đồng thời chuẩn bị sẵn vô vàn tiểu tiết để phục vụ quá trình thưởng thức của chúng ta. Các thành phẩm của cô, do cách kể giản dị, thiếu lắt léo, nên thoạt nhìn qua không có vẻ gì bộc lộ “phong cách đạo diễn đặc biệt”, nhưng kỳ thực nó đặc biệt cũng chính vì cô đã ẩn mình quá khéo léo.

Hãy tưởng tượng việc xem mỗi bộ phim giống như ta làm một cuộc trò chuyện với đạo diễn. Một số phim khiến ta cảm thấy mình vừa nghe chia sẻ từ một anh tài cực kỳ uyên bác, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Chúng làm ta choáng ngợp và muốn quay lại “cuộc nói chuyện” để được thán phục thêm. Trong so sánh này, Yamada tựa hồ một cô gái chỉ lắng nghe ta nói suốt toàn bộ thời gian. Bước ra khỏi cuộc gặp mặt, ta cảm thấy rất khó nhận xét về Yamada. Liệu cô có thông minh hay ngây thơ, ngờ nghệch – ta không hề để ý, cũng không đủ bằng chứng để kết luận, chỉ nhớ mang máng cảm giác được an ủi, được nhìn nhận, tôn trọng. Khách quan mà nói, ta không dám thừa nhận rằng Yamada là một người “giỏi trò chuyện”, nhưng không có nghĩa là ta không quay lại để tiếp tục được cô lắng nghe.

Mình nghĩ về Yamada như vậy. Khi mình cố tìm những điểm cuốn hút trong phim cô, mình nhận ra phần lớn chúng đã bị lược bỏ. Cái thứ ngôn ngữ còn sót lại trong phim là thứ ngôn ngữ rất nhỏ nhẹ, kìm nén, mà bên dưới cái vỏ kìm nén ấy có biết bao nhiêu là cảm xúc tiềm ẩn. Một số phim của Yamada, nếu đem tóm tắt bằng lời sẽ thấy vừa nhạt phèo vừa nông cạn. Nhưng thực tế vẫn là, phim cô đã chạm được trái tim của rất nhiều người.

=========

TỔNG KẾT

– Takemoto là một nhà kể chuyện toàn năng, cái gì cũng biết, luôn thủ sẵn nhiều phương pháp thị giác để diễn đạt câu chuyện theo đủ cách phong phú, đi sâu vào thế giới bên trong, đôi khi đẩy nhân vật đến tận cùng cuộc chiến đấu nội tâm. Không gì qua mắt ông được. Hãy nhìn Nagato, người ta rõ ràng đang thẹn thùng quay mặt đi, vậy mà ông vẫn dùng bóng phản chiếu “bắt” được ánh mắt cùng cái má ửng hồng của cô để kể lại cho khán giả.

– Yamada là một đạo diễn “hóa thân” thành nhân vật, một số điều cô không biết, một số điều cô tránh né, thường cô chỉ quan sát hiện thực bên ngoài, và tùy theo cái nhìn cảm thông với nhân vật mà cô sẽ dùng kỹ thuật nhiếp ảnh/điện ảnh để bộ phim toát lên cảm xúc. Hình ví dụ bên phải là Nishimiya, ngay cả khi mặt-đối-mặt, vẫn là bí ẩn đối với Ishida; ánh sáng chói lòa giấu đi đôi mắt cùng nỗi buồn của cô, dù nỗi buồn vẫn phảng phất đâu đó trong hình ảnh.

– Viết xong cả bài mình mới nhớ lý do ban đầu chọn hai đạo diễn này là vì họ đều đóng đô ở studio KyoAni. Điểm chung là cả hai đều rất đầu tư cho hiệu quả thị giác, thực hành show-don’t-tell (giải thích ít, thể hiện nhiều). Movie là nơi mỗi người phát huy hết sở trường cá nhân, nhưng khi đến TV series, do cách vận hành của KyoAni nên vẫn hay có sự hợp tác qua lại, dẫn đến việc một bộ phim có thể hội tụ điểm mạnh của nhiều người, chẳng hạn Hyouka hay Maid Dragon. Những gì mình trình bày chỉ là xu hướng mình thấy nổi bật ở mỗi người, nhưng trên thực tế qua quá trình làm việc họ ắt có nhiều cơ hội học hỏi, tác động lẫn nhau. Phong cách Takemoto có lẽ sẽ giúp các hoạt họa viên KyoAni quen với cách tư duy bằng hình bóng và thể nghiệm những lối vẽ tâm trạng. Còn sự góp mặt của một Yamada yêu thích nhiếp ảnh có lẽ sẽ định hình cách sử dụng ánh sáng, tạo chiều sâu cho các tác phẩm của studio về sau. Có lẽ. Việc mỗi người cố gắng vận dụng đa dạng phong cách có lẽ cũng xảy ra. Do đó sẽ không lạ gì nếu ta bắt gặp những tấm hình như sau (Shoushitsu bên trái và Koe no Katachi bên phải):

Mình không có ý kiến về những phần giao thoa trong cách dựng phim thế này. Nên mình kết thúc loạt bài ở đây. Cám ơn các bạn đã kiên nhẫn đọc hết.

=========

Tham khảo thêm:

Crunchyroll’s Why It Works: Dragon Maid’s Yamada Touch Part 2

Sakuga Blog’s Naoko Yamada: Filmed with the Heart

Under the Scope’s Naoko Yamada – At the Entrance to the Universe

Bonus một tấm chót: Hình ảnh tình tứ của chân với chả cẳng trong Maid Dragon.

MD 08 - legs 2

Advertisements
Leave a Comment

Comment gì đi bạn, mình sẽ lắng nghe :D

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: