Skip to content

Tổng kết anime 2015

10.01.2016

Như một bước tiến mới trong công cuộc lòe loẹt hóa blog, sau những chuỗi ngày cập nhật episodic review không đều đặn, đăng full review rời rạc, tham gia 12 days of anime vội vàng và gần như không kịp suy nghĩ trước khi viết, bạn d sẽ bổ sung thêm một thể loại mới đó là Tổng kết năm! Cụ thể là tổng kết các anime chiếu trong 2015 mà mình hoàn thành. Tổng kết hay bình luận, viết cảm nhận, đều là những phương pháp rất tốt để che đậy sự vô ích của anime. Chúng ta có thể nhẩm lại những khoảnh khắc ngọt ngào, xúc động, những điều bằng lòng, những điều chưa, và cảm thấy một năm qua mình đã có bao vui buồn cùng phim hoạt hình của xứ khác, trong khi thật ra chúng ta chỉ đang đốt thời gian không hơn. Mình rất thích viết review là vì thế!

Mình đã xem được 9 TV series và 1 movie chiếu trong 2015. Như vậy có nghĩa là toàn bộ post này sẽ quanh đi quẩn lại nói về 10 cái phim đó (cũng vừa đủ làm một list xếp hạng theo phong trào). Mà phải biện minh là bạn d đã lọc qua các bình luận trên mạng rồi mới lựa vài bộ phù hợp mà theo cho trót, nên tuy bé mọn so với con số 200+ anime sản xuất hàng năm, thì mình cũng không cảm thấy bị bỏ lỡ gì cả.

Bài viết cố gắng không spoiler, nhưng các link đính kèm thì có đầy.

Giải thưởng lặt vặt cho xôm

Moment of the year: Shirobako 23 (recording scene)
Being Shizuka is suffering.

Honorable mention: Hibike Euphonium 12 (bridge scene)

Ending of the year: Yurikuma Arashi
Ikuhara là một tên tuổi đáng tin tưởng làm nên những kết thúc phim ngây ngất.

Honorable mention: Concrete Revolutio

Character of the year: Oumae Kumiko [Hibike Euphonium]
Phiên bản anime của bạn d.
Bonus, ship of the year: Kumiko x Reina [Hibike Euphonium]

Honorable mention: Miyamori Aoi [Shirobako]

OP of the year: Ano Mori de Matteru – Bonjour Suzuki [Yurikuma Arashi]

Honorable mention: Friend Shitai [Gakkou Gurashi]

ED of the year: Sugar Song to Bitter Step – UNISON SQUARE GARDEN [Kekkai Sensen]

Honorable mention: The Beginning [Concrete Revolutio]

Xếp hạng phim đã xem, theo mức độ yêu thích

10.

THE ROLLING GIRLS
[Winter; original; tập 1-12]

RG 02 - motorbikes

Huy hoàng của The Rolling Girls chỉ kéo dài được trong tập 1, và cùng lắm là tập 2. Hai tập đầu đặt nền móng cho một thế giới giả tưởng, từng vùng đất lại có tranh chấp riêng giữa các anh-hùng siêu năng lực, đôi khi thường-dân cũng hùa theo anh-hùng gây lộn lẫn nhau. “Rolling girls” ám chỉ nhóm 4 em gái trẻ thường-dân, cưỡi xe đi khắp bản đồ, mỗi nơi ghé qua là một câu chuyện về xung đột được hòa giải. Âm nhạc  sinh động và hình ảnh bắt mắt, càng đặc biệt màu mè trong các trận chiến khoe siêu năng lực. Đáng tiếc khoản chất lượng về sau là tiêu biểu cho sự xuống dốc không phanh của các em gái xe máy qua việc kể chuyện hời hợt, chuyển động cẩu thả hơn, nhân vật ngớ ngẩn và tình huống khiên cưỡng.

Nếu tập 1 khiến ta nghĩ các nhà làm phim đã nắm bắt được lối suy nghĩ sáng tạo và táo bạo của trẻ em 10 tuổi thì các tập sau sẽ tạo cảm giác rằng phim đích thực được các staff giao cho tụi con cái 10 tuổi ở nhà làm giùm. Bộ phim có cố gắng giữ tinh thần “vui quên ngày tháng” nên khoảng tập 5-8 cũng trưng được mấy khoảnh khắc vui vụt sáng nhưng chênh lệch về chất lượng giữa tập 1 và các tập còn lại thiệt vẫn là một sự lừa đảo não lòng. Hoặc đơn giản là mình đã nuôi quá nhiều kỳ vọng mà phim không đáp ứng nổi.

Xem thêm: The Rolling Girls in Potentia (Atelier Emily)

9.

SHIMONETA
(Shimoneta to Iu Gainen ga Sonzai Shinai Takutsu na Sekai)
[Summer; light novel chuyển thể; tập 1-12]

Shimoneta 01 - terrorist

Khi hài tục không đơn thuần là hài tục mà còn đại diện cho tự do ngôn luận! Trong một thế giới tương lai khi mọi chuyện hài tục bị cấm đoán, porn bị đem đốt, người dân bị lắp vòng cổ để cấm nói bậy, trường học dạy rằng trẻ em sinh ra bằng tình yêu thương thuần khiết,… thì các nhóm khủng bố đã ngấm ngầm nổi dậy chống đối nỗi ám ảnh đạo đức đến cực đoan. Dưới vỏ bọc ngoan hiền của một hội phó hội học sinh, nữ chính Kajou Ayame kì thực là tay thủ lĩnh khủng bố chuyên phát tán văn hóa phẩm đồi trụy và cần mẫn đấu tranh vì mục tiêu giáo dục giới tính cho cộng đồng.

Shimoneta thích cường điệu và thô tục, nhưng nó gãi đúng chỗ ngứa cho những ai quá quen với sự bưng bít, xấu hổ của xã hội liên quan đến vấn đề giới tính hay tình dục. Gồm 2 arc chính (ứng với 2 cuốn light novel) và 2 tập filler, phim vừa đả kích sự lố bịch của những kẻ bị bao bọc bởi tư duy trong sáng, vừa phân rõ lằn ranh đối với bè lũ đồi trụy lệch lạc. Rốt lại vẫn xoay quanh hài tục nhưng nó muốn khán giả đừng gán cho “hài tục” thứ hàm nghĩa chối bỏ và miệt thị nữa. Là một phim bình thường về nhiều mặt, kể cả khiếu hài hước cũng lúc lên lúc xuống, kể cả lập luận cũng lúc hợp lý lúc không, nhưng những thông điệp cùng tính châm biếm xã hội đã giúp cho phim thành một series cực kỳ thú vị và đáng nhớ trong năm.

Xem thêm: Interview with the creator (MAL)

8.

PSYCHO-PASS MOVIE
[original]

PPM - backgrounds

Phiên bản chiếu rạp nhằm mở rộng thương hiệu Psycho-Pass, với sự trở lại của Urobuchi Gen. Akane đi Đông Nam Á tìm Kougami, và tại đây tiếp tục dây vào các vấn đề của hệ thống Sibyl khi hệ thống này được các nước khác áp dụng phục vụ cai trị và đàn áp. Các pha hành động hoành tráng cùng khung cảnh quy mô của chiến tranh, sinh hoạt xã hội đã nâng chất lượng hình ảnh và chuyển động của series Psycho-Pass lên mức tối đa, đậm chất bom tấn.

Nội dung, lại là một vấn đề khác. Psycho-Pass đá qua các mảng bự như xung đột quân sự và xây dựng chế độ mới. Về mặt chủ đề thì chỉ kịp khai thác gờn gợn. Về mặt kể chuyện thì không có gì bất ngờ, làm như bê vào các kiểu mẫu nhân vật và sự kiện thuộc thể loại phim điệp viên hành động, đến nỗi phần làm mình thấy hồi hộp nhất lại là phần lời thoại tiếng Anh của các seiyuu người Nhật. Nhân vật luôn phải tỏ ra ngầu và nguy hiểm nên bộ phim gần như thiếu vắng cảm xúc. Nhìn lại, movie là một tuyến truyện phụ lạ lẫm, chủ yếu vớt vát ở những đoạn dùng đến nhân vật và kiến thức cũ như Kougami, Akane, thành viên đội 1, vân vân. Sự chuyên nghiệp trong cách dựng phim oái oăm thay lại thành ra khô cứng, không có gì quá nổi trội để đọng lại trong đầu mình, trừ việc nó là một phần của thế giới Psycho-Pass có lẽ sẽ còn mở rộng hơn.

Xem thêm: Review 1 (The Nihon Review), Review 2 (Breeze)

7.

PARASYTE
(Kiseijuu: Sei no Kakuritsu)
[Winter; manga chuyển thể; tập 13-24]

Parasyte 17 - phone

Nếu xét nội trong năm ngoái thì cour đầu của Parasyte sẽ xếp được thứ bậc rất cao. Chỉ là hứng thú của mình mất dần khi series càng đi đến cuối. Vào nửa đầu của anime, chúng ta còn bỡ ngỡ trước sự đổ bộ của các parasyte bí hiểm và tò mò lo lắng về sự hòa hợp của giống sinh vật này với thế giới loài người. Khi đi thêm quãng đường 12 tập nữa, khía cạnh tâm lý, giật gân của Parasyte nhường chỗ cho hành động/oánh lộn siêu phàm (vốn mình không thấy có gì hay), hành trình cá nhân của Shinichi được mở rộng ra các vấn đề xã hội rất vĩ mô và rất khô, còn nhân vật đông hơn nhưng không có gì hấp dẫn hơn.

Bằng quá trình parasyte dần dần rũ bỏ thú tính để tiến gần hơn đến nhân tính, quá trình Shinichi mất dần cảm xúc và tiến gần hơn đến vô cảm, series Parasyte muốn là lăng kính cho ta soi vào những yếu tố làm nên khái niệm con người. Loài người trên lý thuyết của Parasyte vô cùng thông minh, vô cùng tham vọng, vừa ích kỷ mà cũng vừa vị tha, là một bí ẩn lạ kỳ. Song những nhân vật được series đưa lên màn ảnh thì thường bốc đồng, kém trí tuệ, thiếu sáng suốt, hành động theo sự thuận tiện của plot thay vì có một cá tính đáng để mình quan tâm và ủng hộ. Cứ ngỡ Yuuko (gái tạt axit) ở season đầu là ngu đặc biệt, nhưng càng xem mới biết phe người nói chung trong phim cũng chẳng khá hơn. Season sau chỉ thật sự mạnh khi tổng kết được một arc về parasyte Tamura Reiko và luôn thể giải quyết quá trình phát triển nhân vật của nam chính Shinichi. Reiko, Migi, hay Shinichi – những kẻ có khao khát hòa nhập đến nỗi phải nỗ lực thay đổi bản thân – đều là điểm sáng cho mình nhớ. Còn lại thì hơi tối.

Xem thêm: Episode 18 review (The Cart Driver)

6.

GAKKOU GURASHI
(School-Live!)
[Summer; manga chuyển thể; tập 1-12]

GG 11 - reality

Nói tóm gọn, Gakkou Gurashi kể về cuộc sống hồng phấn của các em nữ sinh kết hợp phim kinh dị ngập tràn xác sống. Thật khó tưởng tượng hai vế trên sẽ hòa quyện kiểu gì, nhưng series không chỉ làm được điều đó mà còn làm tốt ngoài sức tưởng tượng của mình. Gakkou Gurashi là kiểu show đầu tư rất nhiều dụng ý trong khâu kể chuyện và dẫn dắt cảm xúc, nên dĩ nhiên cũng là kiểu show mà khán giả càng ít biết về nó trước khi xem càng tốt.

Nhiều đoạn slice of life tuy nhàn nhạt, dễ-thương-một-cách-thiếu-tự-nhiên, nhưng đã được series tận dụng để tương phản với nửa phần còn lại rùng rợn và nghẹt thở với các thây ma. Nghệ thuật kể chuyện và gia tăng tính hồi hộp còn được củng cố bằng các kỹ thuật điện ảnh khéo léo cũng như việc đặt trọng tâm vào tâm lý nhân vật. Nhân vật, lại là một điểm nữa để series tự hào vì đằng sau những câu đùa giỡn nhăng nhít đều là những cô gái phải đối mặt với một thế giới hoang tàn, phải sinh tồn, và quan trọng hơn nữa, phải vui mà sống. Việc mình có thể quý mến bầu không khí chung và dàn gái ngây ngô của phim cũng là một điều khó tin nữa đã xảy ra. Ngoài một số điểm trừ như fanservice vớ vẩn, animation nhiều khúc vẽ lấy lệ, thì cảm giác chung là Gakkou Gurashi đã khai thác hiệu quả những nguyên liệu có sẵn, chọn được một điểm dừng đẹp, khiến cho bộ phim khá trọn vẹn nếu nhìn từ tổng thể.

Xem thêm: AMV Children of the Grave (Xophilarus)

 

5.

KEKKAI SENSEN
(Blood Blockade Battlefront)
[Spring; manga chuyển thể; tập 1-11]

KS 01 - pose

Mình bắt đầu xem Kekkai Sensen là vì đạo diễn, ráng xem cho kịp làm tổng kết năm cũng vì đạo diễn. Trong TV series Kyousougiga trình làng năm 2013, Matsumoto Rie đã chứng tỏ bản lĩnh sáng tạo độc đáo; thế mạnh đó tiếp tục phát huy ở Kekkai Sensen 2015. Phiên bản manga của Nightow  vốn đã hết sức rộn rịp rồi, phối hợp thêm với cô đạo diễn trẻ thì càng như cái chợ, sự kiện sau trước dồn dập coi muốn ná thở. Tóm tắt nội dung của Kekkai Sensen cũng dễ như tóm tắt nội dung của… Baccano vậy. Tức là chuyện này xọ chuyện kia, kể tới đâu hay tới đó, ráng nói cho gọn gàng nhất thì toàn bộ phim gồm một thành phố tự do và một bầy nhân vật cổ quái, gặp nhau gây ra đủ chuyện đánh đấm giao tranh.

Với các đặc điểm đó cùng episodic format, Kekkai Sensen dễ tạo cảm giác rời rạc, dẫn đến bản anime chuyển thể này đã quyết định can thiệp mạnh vào tác phẩm gốc bằng cách tự thêm hai nhân vật mới Black và White.  Kết phim của Kekkai Sensen có thể đã gây nhiều lùm xùm, nhưng cá nhân mình thì thấy nó bổ sung một tuyến truyện lớn cùng các chủ đề về tình anh em, sự hy sinh, quyết tâm, hy vọng,… càng tốt cho phim thôi. Kekkai Sensen là một nồi lẩu lộn xộn, nhưng gồm toàn những nguyên liệu hảo hạng như các trận đánh đẹp mắt, hình ảnh cá tính, nhân vật đáng yêu, lối kể/dựng phim năng động, và đặc biệt là luôn luôn không thể thiếu sự vui nhộn đầy sảng khoái.

Xem thêm: Episode 1 review (Mage in a Barrel), Episode 12 review (ANN)

4.

CONCRETE REVOLUTIO
(Concrete Revolutio: Choujin Gensou)
[Fall; original; tập 1-13]

CR 01 - heal

Như Kekkai Sensen, Concrete Revolutio cũng là một dạng lẩu, và khác ở chỗ, Concrete Revolutio đậm đặc tính thời sự cùng các bình luận về lý tưởng, xã hội. Phải gọi là một trong những series tham vọng hàng đầu trong lịch sử xem anime của mình. Bộ phim dùng đến một dàn nhân vật liên thể loại như mecha, magical girl, ma quỷ, quái vật, cyborg, android, người bất tử, người ngoài hành tinh,… mà thoạt lướt qua thì người ta dễ nghĩ rằng nó hơi bị trẻ con. Chỉ khi xem xét kĩ hơn khán giả mới thấy có hẳn một mạng lưới chằng chịt các reference phim truyện và sự kiện lịch sử, với độ phức tạp ngày một chi li hơn. Từ các năm Shinka trong Concrete Revolutio, có thể suy ra rằng phần lớn nội dung phim tương ứng với giai đoạn 1940-1970 ở Nhật, cũng là phải kể đến tình hình chính trị hậu chiến, biểu tình rầm rộ và niềm tin sụp đổ.

Concrete Revolutio liên tục nhảy cóc qua lại giữa các mốc thời gian để dần dần hé lộ bức tranh về siêu nhân bảo vệ dân lành và hội nhân vật bảo vệ siêu nhân, từ các gốc độ tự do, hòa bình và chính nghĩa. Bộ phim cũng mắc tật nói nhiều với nói nhanh, ảnh hưởng trầm trọng đến nhịp truyện và việc khắc họa tính cách hay cảm xúc. Phải về sau, khi quen lối kể rồi, hành động và suy nghĩ của nhân vật mới dễ thấm hơn. Đến cuối cùng nhìn lại, mình thấy các thành viên trong hội khá đáng mến, các siêu nhân thì phong phú về năng lực và tư tưởng, hình ảnh anime vừa tươi sáng vừa hoài cổ, rồi cả lý tưởng anh hùng cũng được phim khai thác cho đích đáng. Giờ thì chỉ còn hy vọng trong vài tháng tới mình có thể tạm hiểu mấy chi tiết của phim, trước khi season 2 ào đến và xới cho cái nùi chỉ này rối tung hơn.

Xem thêm: Concrete Revolutio’s timeline (AniTAY), Episode 13 review (Lost in Anime)

3.

YURIKUMA ARASHI
(Yuri Bear Storm)
[Winter; original (?); tập 1-12]

YKA 06 - forest and moon

Cuộc đời luôn tươi đẹp mỗi khi Ikuhara quyết định làm phim hoạt hình. Dù các blogger nước ngoài chê õng eo rằng Yurikuma không bằng 2 series trước của ông già đạo diễn, thì bộ phim vẫn đóng cộp mác Ikuhara và ta không tìm ra ai làm phim được như ổng cả. Những khúc quậy thì phim hài nghiêng ngả, những khúc trí tuệ thì biểu tượng, ẩn dụ xếp chồng xếp lớp lên nhau, rồi một khi mà cái đà lý luận, chiêm nghiệm của phim được đẩy mạnh thì khán giả sẽ bước ra khỏi finale như vừa đi xong tàu lượn siêu tốc. Đến một lúc nào đó mình đã trở thành fangirl của ông đạo diễn, rồi cả bộ Yurikuma này cũng càng để lâu càng thấy mê hơn nữa.

Câu chuyện của Yurikuma xảy ra trong bối cảnh mà một bức tường được dựng lên để ngăn cách hai thế giới của gấu và của gái. Đó là ngôn ngữ trong phim, còn bằng ngôn ngữ trần tục hơn: Yurikuma kể về tình yêu đồng tính bị chôn giấu, sự kỳ thị xã hội như một vòng tròn khắc nghiệt luẩn quẩn, và quá trình vượt lên trên tất cả để đeo đuổi tình yêu. Mà đó, là ngôn ngữ của mình, còn nói thật ra thì bộ phim đạt đến một tầm khá trừu tượng, nên đa phần thời gian xem, mình sẽ liên tưởng đến tình cảm nói chung, rồi sự gắn kết giữa các tâm hồn nói chung. Cảm thấy Yurikuma cũng không có quá nhiều chuyện để kể, đoạn giữa hơi chùng chình làm như muốn câu giờ chờ kết thúc, nhưng điều muốn lý luận thì nó đã trình bày muôn phần sâu sắc, sinh động, không đụng hàng, để quá trình coi phim cũng giúp vừa xoa bóp não, vừa an ủi con tim lẻ loi khô cằn cho khán giả ở nhà. Câu này mình đã khen mấy lần rồi, nhưng tập cuối hay quá…

Xem thêm: Episode 1 observations (8thSin Translations), The Girls in the Boxes (GAR GAR Stegosaurus)

2.

SHIROBAKO
[Winter; original; tập 13-24]

Shirobako 18 - poor Miyamori

Nếu phải chọn một show nào đó từ năm 2015 để gắn nhãn must-watch must-know và được truyền tụng đời đời, thì mình muốn bầu chọn cho Shirobako. Ứng cử viên này – Shirobako – là một món quà dành tặng fan anime và chính thế giới anime, bằng cách tiên phong lần mở toàn bộ ngõ ngách của hậu trường dựng phim, thể hiện bao quát các nhiệm vụ, khó khăn, tâm tình, động lực của một đội ngũ trước nay chỉ âm thầm đứng sau thành công của tác phẩm. Shirobako không chỉ thú vị vì góc nhìn toàn diện, nó còn đem lại cảm giác ấm áp vì đã nhờ các góc nhìn đó nói hộ tình yêu với anime: niềm vui khi được thổi hồn vào tranh vẽ, sự hài lòng khi nội dung, chủ đề và hình thức đều hòa hợp, nỗi đồng cảm với các nhân vật tưởng tượng trên màn hình,…

Bên cạnh điểm mới mẻ là chuyện làm anime, Shirobako còn một điểm mạnh hơn nữa để chiếm lấy cảm tình khán giả: cuộc sống thực tế của người đi làm. Với tuyến nhân vật phong phú và gần gũi, bộ phim luôn bày ra những hoàn cảnh cho người ta ít nhiều nhìn thấy chính bản thân trong đó, dù là Misa mỗi ngày cặm cụi vẽ bánh xe 3D hay Aoi hiểu rằng mình đã lựa được công việc đúng mà vẫn không thể nào xua đi cảm giác vô dụng. Chỉ bằng những kịch tính hết sức đời thường, chỉ là đi thu âm, đi giao bản vẽ, đi họp hành, mà sự chân thành trong cách kể cũng đủ khiến ta bùi ngùi nhìn thấy mộng mơ tuổi trẻ dần thay hình đổi dạng trước thử thách của cuộc đời. Shirobako duy trì phong độ ổn định từ đầu đến cuối, khai thác tốt ý tưởng, thể hiện tốt nội dung, cân bằng tốt các mặt vui-buồn, vô cùng phũ phàng mà cũng hết sức lạc quan. Phải nói sao mình cũng thấy nó dễ thương quá thể.

Trong một câu: Shirobako là một sự an ủi. Highly recommended.

Xem thêm: Shirobako’s glossary (Altair & Vega), Review (Draggle’s Anime Blog), The Anime Version of Real-Life Anime Creators (Kotaku)

1.

~ Anime of the year ~

HIBIKE EUPHONIUM
(Sound! Euphonium)
[Spring; novel chuyển thể; tập 1-13]

HE 12 - senpai

Và sau khi khen ngợi Shirobako lên tuốt trên mây rồi thì con tim thiên vị vẫn quyết định Hibike Euphonium là bộ mình yêu thích nhất trong năm. Cảm giác quý mến rất rõ ràng – có thể trân trọng từng giây phút khi nó chiếu, những ngày sau tiếp tục nghĩ về tập phim mà tự thấy ấm lòng. Nếu Shirobako say sưa kể về làm anime, thì Hibike Euphonium lại say sưa giới thiệu ban nhạc trường học. Là đứa con tinh thần của Kyoto Animation, cũng không lạ gì khi Hibike Euphonium đạt điểm 10/10 về khoản tinh tế, tỉ mỉ và bóng bẩy. Chất lượng sản xuất hàng đầu còn thể hiện ở những màn biểu diễn không chỉ đúng kiến thức, kỹ thuật, mà âm thanh còn phản ánh được trình độ của từng nhân vật.

Với nhiều khán giả, bộ phim là sự tái hiện chân thực tình yêu âm nhạc cùng các sinh hoạt trong câu lạc bộ trường. Mình thì không có kỷ niệm gì với nhạc thính phòng; niềm đam mê của phim có thể lây qua mình, nhưng điểm thật sự kết nối nhất, vẫn là mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, làm thành một bản hòa âm. Hibike Euphonium gom được chủ đề mình tâm đắc ở cả Yurikuma và Shirobako: quá trình các tâm hồn tìm gặp nhau, và một tổng thể hài hòa sau khi đã phối hợp những trầm bổng cá nhân. Đa phần dây nhợ quan hệ trong phim đều có thể quy về mong muốn được hoàn thiện bản thân, như Yuuko với Kaori, Kaori với Asuka, và đặc biệt nhất, là Kumiko với Reina – một tình bạn đẹp đẽ có thể nâng đỡ tinh thần cho kẻ trong cuộc, cũng như khơi dậy nhiều bình luận hùng hồn từ lực lượng shipper. Hibike kể chuyện từ tốn, đầu tư tiểu tiết nhưng không xa rời chủ đề, làm toát lên tính cách nhân vật từ những cử chỉ nhỏ nhặt, vừa xử lý nội bộ ban nhạc, vừa chăm lo nữ chính Kumiko. Là một phim đúng y chốc gu của mình, tất yếu phải giựt giải Anime of the Year.

Xem thêm: Trumpet of the heart (Isn’t It Electrifying?), Episode 8 review (Blogsuki), Tanoshii Ongaku (Bateszi Anime Blog)

Ý kiến của mình về những bộ khác

Đã drop từ sớm:

  • Ore Monogatari (mình từng rất thích phiên bản manga của nó, nên vấn đề drop có thể do gu xem phim của mình đã thay đổi theo thời gian),
  • Sakurako-san (có vẻ nhiều cliché và hơi… lightnovel-ish?),
  • One Punch Man (hài, và ảnh cũng dễ thương nữa, nhưng action comedy không phải là lựa chọn của mình khi bị thiếu thời gian),
  • Gundam Iron Blooded Orphans (mecha + space opera tiêu chuẩn và chuyên nghiệp, có thể là khởi đầu tốt để tìm hiểu sự hype đằng sau Gundam, nhưng cũng không phải genre được mình quan tâm).

Sẽ check qua nếu đặc biệt rảnh, theo thứ tự ưu tiên giảm dần:

  • Wakako-zake,
  • Gatchaman Crowds Insight,
  • Owarimonogatari,
  • Oregairu 1+2,
  • Maria the Virgin Witch,
  • Rokka no Yuusha.
Advertisements
Leave a Comment

Comment gì đi bạn, mình sẽ lắng nghe :D

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: